- NGHỊ ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 338-TTg NGÀY 27 THÁNG 7 NĂM 1957 BAN HÀNH BẢN ĐIỀU LỆ TẠM THỜI VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG DÂN CÔNG TRONG THỜI KỲ KIẾN THIẾT HÒA BÌNH
- Điều 1. Nay ban hành bản điều lệ tạm thời về huy động và sử dụng dân công trong thời kỳ kiến thiết hòa bình, kèm theo nghị định này.
- Điều 2. Các ông Bộ trưởng Bộ Lao động, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi và Kiến trúc, Bộ trưởng Bộ Giao thông và Bưu điện, Bộ trưởng Bộ Tài chính và các ông chủ tịch Uỷ ban hành chính khu, tỉnh và thành phố chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.
- ĐIỀU LỆ TẠM THỜI CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 339-TTG NGÀY 27 THÁNG 7 NĂM 1957 VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG DÂN CÔNG TRONG THỜI BÌNH
- Chương 1: NHỮNG NGƯỜI CÓ NGHĨA VỤ ĐI DÂN CÔNG
- Điều 1: Tất cả công dân Việt Nam, đàn ông từ mười tám đến năm mươi tuổi, đàn bà từ mười tám đến bốn mươi nhăm tuổi đều có nghĩa vụ đi dân công.
- Điều 2: Để bảo đảm thực hiện các kế hoạch kiến thiết của Nhà nước, mà không trở ngại đến sự thực hiện kế hoạch sản xuất của các ngành và sự hoạt động của bộ máy chính quyền, đồng thời bảo đảm sự thực hiện các chính sách chiếu cố của Chính phủ đối với một số người, những người sau đây được miễn, tạm miễn, hoặc tạm hoãn đi dân công:
- Chương 2: NHỮNG VIỆC ĐƯỢC SỬ DỤNG DÂN CÔNG
- Điều 3: Được hủy động dân công để làm những công tác sau đây:
- Chương 3: NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI ĐI DÂN CÔNG
- Điều 4: Mỗi người mỗi năm đi dân công làm việc trên các công trường ba mươi ngày, không tính ngày đi, ngày về và ngày nghỉ.
- Điều 5: Sau chín ngày làm việc liên tiếp, dân công được nghỉ một ngày. Mỗi ngày dân công làm việc 9 giờ. ở miền núi, về mùa đông hay trong trường hợp phải làm việc trên đèo cao hoặc làm việc xa nơi ở, thì có thể làm việc tám giờ một ngày.
- Điều 6: Trên công trường, dân công phải tôn trọng kỷ luật lao động, chăm chỉ làm việc, bảo đảm số lượng và chất lượng công tác. Dân công phải phục tùng tổ chức lãnh đạo, tôn trọng và bảo vệ của công, không xâm phạm đến tài sản của nhân dân, giữ bí mật quốc gia, đề phòng phá hoại.
- Điều 7: Dân công được tham gia ý kiến vào sự tổ chức làm việc và tổ chức đời sống ở công trường.
- Điều 8: Dân công tỉnh nào làm việc trong phạm vi tỉnh ấy.
- Điều 9: Khi đến làm việc ở công trường, dân công phải đem theo dụng cụ làm việc của mình; các cơ quan sử dụng dân công phải thông tri cho xã biết để báo cho dân công chuẩn bị, chu đáo trước khi đến công trường. Những dụng cụ của công trường giao cho dân công, nếu vì không giữ gìn cẩn thận mà để mất mát hoặc hư hỏng nặng, thì dân công phải đền.
- Điều 10: Chế độ làm việc của dân công trên công trường chủ yếu là làm khoán; trừ một vài việc không thể giao khoán được thì mới giao làm công nhật.
- Điều 11: Thù lao cho dân công nhận khoán tính theo khối lượng công tác đã làm được.
- Điều 12: Trong thời gian làm việc ở công trường, dân công được nghỉ những ngày lễ sau đây:
- Điều 13: Công tác bảo vệ sức khoẻ cho dân công trên công trường chủ yếu là công tác phòng bệnh.
- Điều 14: Dân công phụ nữ, trong những ngày hành kinh, được công trường xếp làm việc nhẹ, hoặc làm ít thì giờ, hoặc giảm bớt khối lượng công tác; nếu ở gần nhà thì có thể xin về nhà nghỉ trong những ngày ấy, sau đi làm bù.
- Điều 15: Trong khi làm việc, dân công bị tai nạn lao động phải được đưa vào trạm xá của công trường điều trị. Nếu công trường không có trạm xá, hoặc có mà không chữa được thì phải được đưa lên bệnh viện tỉnh.
- Điều 16: Tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh công tác, công trường có thể tổ chức cho dân công ở, ăn tập thể; hoặc sáng đi chiều về, nếu nhà ở gần công trường.
- Điều 17: Nếu dân công ở tập trung tại công trường thì được hưởng các khoản tập thể phí như: dầu để thắp đèn, báo chí và giấy bút cần thiết cho cán bộ chỉ huy dân công làm việc.
- Điều 18: Những đơn vị và cá nhân dân công có thành tích xuất sắc trong công tác xẽ được khen thưởng.
- Chương 4: NHIỆM VỤ CỦA CÁC CƠ QUAN CÓ TRÁCH NHIỆM THI HÀNH ĐIỀU LỆ DÂN CÔNG
- Điều 19: Sau đây là nhiệm vụ cụ thể của những cơ quan có trách nhiệm về phân phối, huy động và sử dụng dân công.
- Điều 20: Uỷ ban hành chính từ khu đến xã chịu trách nhiệm về toàn bộ công tác dân công trong phạm vi địa phương mình, cụ thể có những nhiệm vụ sau đây:
- Điều 21: Ban chỉ huy công trường có nhiệm vụ:
- Điều 22: Nếu có những khoản phải chi về quyền lợi của dân công chưa được thanh toán mà công trường đã giải tán, thì cơ quan trực tiếp phụ trách công trường đó chịu trách nhiệm thanh toán.
- Điều 23: Việc huy động dân công phải nhằm bảo đảm nhu cầu công tác, đồng thời bảo đảm sản xuất của địa phương.
- Điều 24: Để tránh lãng phí thì giờ, dân công không phải tập trung ở huyện và ở tỉnh trước khi đưa đến công trường, Uỷ ban hành chính xã có nhiệm vụ tổ chức dân công thành đội ngũ, cử cán bộ phụ trách đưa thẳng đến công trường.
- Chương 5: ĐIỀU KHOẢN CHUNG
- Điều 25: Uỷ ban hành chính các Khu tự trị căn cứ vào bản điều lệ chung này, và tình hình cụ thể của mỗi khu mà quy định những thể lệ riêng áp dụng cho từng khu, sau khi đã thảo luận thống nhất ý kiến với Bộ Lao động.
- Điều 26: Bộ Lao động chịu trách nhiệm giải thích và hướng dẫn việc thi hành Điều lệ này.
Nghị định số 338-TTg ngày 27/07/1957 của Hội đồng Chính phủ Điều lệ tạm thời về huy động và sử dụng dân công trong thời kỳ kiến thiết hoà bình (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 338-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Ngày ban hành: 27-07-1957
- Ngày có hiệu lực: 11-08-1957
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh