- NGHỊ ĐỊNH ẤN ĐỊNH THỂ LỆ CHO BƯU ĐIỆN PHẢI BỒI THƯỜNG VỀ BƯU PHẨM, BƯU KIỆN BẢO ĐẢM GỬI TRONG NƯỚC BỊ MẤT, THẤT LẠC VÀ HƯ HỎNG
- Điều 1.- Ngành Bưu điện phải bồi thường về bưu phẩm bảo đảm gửi trong nước, trong các trường hợp sau đây:
- Điều 2.- Số tiền bồi thường cho mỗi bưu phẩm bảo đảm bị mất, định là 6.000đồng không phân biệt loại bưu phẩm gì( thơ, gói thơ hay bưu phẩm giá cước hạ). Ngoài số tiền bồi thường trên, bưu điện không phải hoàn lại các khoản cước đã thu và không được bồi thường về các tổn thất khác do sự mất mát gây nên.
- Điều 3.- Tiền bồi thường ưu tiên phải trả cho người gửi nếu cả người gửi và người nhận cùng khiếu nại, nhưng cũng có thể trả cho người nhận theo yêu cầu của người gửi hay được người gửi đồng ý.
- Điều 4.- Nếu bưu điện tìm được một bưu phẩm đã xem như mất hẳn và đã được bồi thường thì báo cho người gửi bưu phẩm đó biết. Trong vòng ba tháng, người gửi có thể xin hoàn bưu phẩm nhưng phải trả lại bưu điện số tiền đã bồi thường.
- Điều 5.- Đơn khiếu nại về bưu phẩm bảo đảm chỉ được chấp nhận trong thời hạn một năm kể từ ngày ký gửi bưu phẩm.
- Điều 6.- Ngành Bưu điện không phải bồi thường về bưu phẩm bảo đảm trong các trường hợp sau đây:
- Điều 7.- Ngành Bưu điện phải bồi thường về bưu kiện gửi trong nước các trường hợp sau đây:
- Điều 8.- Số tiền bồi thường tối đa cho mỗi bưu kiện bị mất hẳn, bị mất ruột hoặc bị hư hỏng quy định như sau:
- Điều 9.- Khi bồi thường, bưu điện căn cứ vào các hoá đơn gửi kèm theo bưu kiện bị mất ruột hay bị hư hỏng.
- Điều 10.- Tiền bồi thường ưu tiên phải trả cho cho người gửi nếu cả người gửi và người nhận cùng khiếu nại. Trường hợp bưu kiện chỉ hư hỏng hoặc mất một phần ruột và người nhận đồng ý nhận thì tiền bồi thường trả cho người nhận nếu họ yêu cầu khi lĩnh bưu kiện.
- Điều 11.- Trường hợp phải bồi thường vì bưu kiện bị mất hẳn hoặc bị hoàn toàn hư hỏng vì khuyết điểm của bưu điện thì bưu điện còn phải hoàn lại toàn bộ cước phí đã thu ( cước vận chuyển và cước thủ tục).
- Điều 12.- Nếu bưu điện tìm được một bưu kiện đã xem như bị mất hẳn và đã được bồi thường thì báo cho người gửi bưu kiện đó biết. Trong vòng ba tháng người gửi có thể xin hoàn bưu kiện nhưng phải trả lại bưu điện số tiền đã bồi thường.
- Điều 13.- Đơn khiếu nại về bưu kiện chỉ được chấp nhận trong thời hạn một năm kể từ ngày ký gửi bưu kiện
- Điều 14.- Ngành Bưu điện không phải bồi thường về bưu kiện trong các trường hợp xảy ra sau đây:
- Điều 15.- Nghị định này thi hành kể từ ngày ký
- Điều 16.- Các ông Chánh Văn phòng Bộ Giao thông và Bưu điện và Tổng Cục trưởng Tổng Cục Bưu điện chiếu nghị định thi hành.
Nghị định số 132-NĐ ngày 30/11/1956 Về việc ấn định thể lệ cho bưu điện phải bồi thường về bưu phẩm, bưu kiện bảo đảm gửi trong nước bị mất, thất lạc và hư hỏng do Bộ trưởng Bộ Giao Thông và Bưu Điện ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 132-NĐ
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Bộ Giao thông và Bưu điện
- Ngày ban hành: 30-11-1956
- Ngày có hiệu lực: 30-11-1956
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Nghị định số 132-NĐ ngày 30/11/1956 Về việc ấn định thể lệ cho bưu điện phải bồi thường về bưu phẩm, bưu kiện bảo đảm gửi trong nước bị mất, thất lạc và hư hỏng do Bộ trưởng Bộ Giao Thông và Bưu Điện ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh