- NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH NHỮNG NGUYÊN TẮC VỀ VIỆC THU THUẾ NÔNG NGHIỆP Ở MIỀN NÚI
- Điều 1. – Nay quy định những nguyên tắc sau đây về việc thu thuế nông nghiệp ở miền núi, nhằm mục đích giảm nhẹ đóng góp của nông dân, đơn giản cách tính thuế, phát triển sản xuất, đồng thời hợp với yêu cầu xây dựng các khu tự trị.
- Điều 2. – Thuế nông nghiệp ở miền núi đánh vào hoa lợi ruộng đất và hoa lợi nương rẫy.
- Điều 3. – Biểu thuế đánh vào hoa lợi ruộng đất, gồm cả chính tang và phụ thu, định như sau:
- Điều 4. – Thuế nông nghiệp về nương rẫy đánh vào số thu hoạch thực tế hàng năm của nương rẫy, sau khi trừ cho mỗi nhân khẩu nông nghiệp 100 ki-lô thóc. Thuế suất định là 10%.
- Điều 5. – Đối với những nông hộ vừa làm ruộng, vừa làm nương, mỗi nhân khẩu nông nghiệp cũng chỉ được trừ 100 ki-lô thóc không phải chịu thuế. Số 100 ki-lô thóc được miễn thuế trừ trước tiên vào hoa lợi ruộng đất; nếu hoa lợi ruộng đất không đủ để trừ thì trừ thêm vào hoa lợi nương rẫy.
- Điều 6. – Để khuyến khích nhân dân làm lâu năm trên một đám nương rẫy, đồng thời để bảo vệ rừng, việc thu thuế phải làm theo mấy điều sau đây:
- Điều 7. – Thuế nông nghiệp chỉ đánh vào những nương rẫy trồng lúa và trồng ngô. Nương rẫy trồng các thứ hoa màu khác như khoai, sắn, đỗ, hồng, lạc, rừng v .v… đều được miễn thuế.
- Điều 8. – Những đất đai dưới đây được chiếu cố:
- Điều 9. – Trường hợp phát canh và lĩnh canh, người chủ ruộng và người cày cấy cùng chịu thuế, mỗi bên thu hoạch bao nhiêu chịu thuế bấy nhiêu (không tăng 25% về người phát canh và giảm 25% về người lĩnh canh như trước).
- Điều 10. – Đối với ruộng đất tôn giáo (ruộng đất nhà chùa, nhà chung v.v…) thuế 8% sản lượng thường năm. Trường hợp phát canh, lĩnh canh, thuế cũng chỉ thu 8% sản lượng thường năm. Số thuế trên do người chủ ruộng nộp cả, hay người cày cấy nộp cả, hai bên thương lượng rồi báo cáo với Ủy ban Hành chính xã trước khi lập sổ thuế.
- Điều 11. – Đối với ruộng đất sử dụng có tính chất công cộng như ruộng dự trữ, ruộng phe, giáp, họ, ruộng giao cho các đoàn thể như thanh niên, phụ nữ cày cấy để gây quỹ v.v… thuế thu 10% sản lượng thường năm.
- Điều 12. – Những ruộng đất bị thiệt hại vì thiên tai như hạn, lụt, sâu bọ v.v… tùy theo thiệt hại nhiều hay ít, được miễn thuế hay giảm thuế như sau:
- Điều 13. – Căn cứ vào nghị định này, Ủy ban Hành chính các khu tự trị sẽ ban hành điều lệ chi tiết để áp dụng cho thích hợp với tình hình địa phương mình.
- Điều 14. – Bộ Tài chính, Ủy ban Hành chính các khu tự trị, Ủy ban Hành chính các Liên khu 3, 4 Ủy ban Hành chính Khu Hồng quảng, Ban cán sự Lào, Hà yên, Ủy ban Hành chính các tỉnh Phú thọ và Bắc giang chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.
Nghị định số 1056-TTg ngày 22/09/1956 Quy định những nguyên tắc về việc thu thuế nông nghiệp ở miền núi do Thủ Tướng ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 1056-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Phủ Thủ tướng
- Ngày ban hành: 22-09-1956
- Ngày có hiệu lực: 07-10-1956
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Nghị định số 1056-TTg ngày 22/09/1956 Quy định những nguyên tắc về việc thu thuế nông nghiệp ở miền núi do Thủ Tướng ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh