- NGHỊ ĐỊNH BAN HÀNH BẢN ĐIỀU LỆ ƯU ĐÃI THƯƠNG BINH, DÂN QUÂN DU KÍCH, THANH NIÊN XUNG PHONG BỊ THƯƠNG TẬT, BẢN ĐIỀU LỆ ƯU ĐÃI GIA ĐÌNH LIỆT SĨ VÀ BẢN ĐIỀU LỆ ƯU ĐÃI GIA ĐÌNH QUÂN NHÂN
- Điều 1. – Nay ban hành:
- Điều 2. – Các chi tiết thi hành các điều lệ này do các Bộ Thương binh, Quốc phòng, Nội vụ và Tài chính ấn định.
- Điều 3. – Các thể lệ ban hành trước đây trái với các bản điều lệ này đều bãi bỏ.
- Điều 4. – Các ông Bộ trưởng Bộ Thương binh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.
- ĐIỀU LỆ ƯU ĐÃI THƯƠNG BINH, BỆNH BINH, DÂN QUÂN, DU KÍCH, THANH NIÊN XUNG PHONG BỊ THƯƠNG TẬT
- Điều 1. – Thương binh, bệnh binh, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật là những người có công đối với Tổ quốc, Chính phủ và nhân dân luôn ghi nhớ công lao đó. Để đền đáp một phần nào, bản điều lệ này, ngoài việc quy định những vinh dự về tinh thần còn nhằm mục đích giúp đỡ thương binh, bệnh binh, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật tổ chức đời sống và phát huy khả năng của mình.
- Điều 2. – Gọi là thương binh và được hưởng các khoản ưu đãi quy định trong bản điều lệ này những quân nhân thuộc đội quân đội nhân dân Việt nam, những chiến sĩ thuộc các đội vũ trang có trước ngày thành lập quân đội, những chiến sĩ thuộc các đơn vị cảnh vệ và những chiến sĩ thuộc các đội vũ trang có trước ngày thành lập các đơn vị cảnh vệ bị thương trong thời gian tại ngũ vì chiến đấu với địch, vì thừa hành công vụ, vì cứu người.
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên bộ 27-NV năm 1961 có hiệu lực từ ngày 20/05/1961
- Điều 3. – Gọi là bệnh binh và được hưởng các khoản ưu đãi quy định trong bản điều lệ này, những quân nhân thuộc quân đội nhân dân Việt nam, những chiến sĩ thuộc các đơn vị cảnh vệ trong khi chiến đấu hay là thừa hành công vụ mắc bệnh lâu mới khỏi hay không chữa khỏi được, vì không đủ điều kiện sức khỏe ở trong quân đội cho nên được giải ngũ.
- Điều 4. – Gọi là dân quân (kể cả tự vệ), du kích, thanh niên xung phong bị thương tật và được hưởng các khoản ưu đãi quy định trong bản điều lệ này.
- Chương 2: ƯU ĐÃI THƯƠNG BINH
- MỤC I. - TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG VÀ PHÁT HUY KHẢ NĂNG CỦA THƯƠNG BINH
- Điều 5. – Thương binh, sau khi giải ngũ được giúp đỡ để tổ chức đời sống và phát huy khả năng của mình như sau:
- MỤC II. PHỤ CẤP THƯƠNG TẬT
- Điều 6. – Thương binh tùy theo mức độ thương tật nặng hay là nhẹ, và mất sức lao động nhiều hay là ít, được xếp và một trong sáu hạng thương tật đã được quy định do nghị định Liên bộ Thương binh-Quốc phòng-Y tế-Tài chính số 18-NĐ ngày 17 tháng 11 năm 1954 để được hưởng phụ cấp thương tật.
- MỤC III. TRỢ CẤP VỀ ĐỊA PHƯƠNG SẢN XUẤT VÀ PHỤ CẤP SẢN XUẤT HAY AN DƯỠNG
- Điều 7. – Thương binh về địa phương làm ăn, tùy trường hợp được trợ cấp một số tiền để thêm vào vốn sản xuất trong thời gian đầu. Trợ cấp gồm có hai loại:
- Điều 8. – Thương binh về địa phương làm ăn được hưởng phụ cấp sản xuất, hay phụ cấp an dưỡng tính theo hạng thương tật.
- MỤC IV. ƯU ĐÃI VỀ RUỘNG ĐẤT
- Điều 9. – Thương binh thiếu ruộng cày thì được ưu đãi trong việc chia cấp ruộng như đã quy định trong Luật cải cách ruộng đất.
- MỤC V. CÁC ƯU ĐÃI KHÁC
- Ưu đãi về thuế nông nghiệp:
- Điều 10. – Trong chính sách thuế nông nghiệp thương binh được ưu đãi như sau:
- Chiếu cố trong việc tuyển dụng và đi học
- Điều 11. – Trong việc tuyển dụng công nhân viên vào các cơ quan và xí nghiệp, học sinh vào các trường chuyên nghiệp hay là văn hóa, thì đối với thương binh, sẽ châm chước một phần về điều kiện sức khỏe, trình độ văn hóa, năng lực chuyên môn.
- Ưu đãi khi đau ốm
- Điều 12.– Thương binh về địa phương, nếu vết thương trở lại hay bị đau ốm thì được ưu tiên khám bệnh và nằm điều trị ở bệnh viện. Trong thời gian hai năm kể từ ngày về địa phương thương binh được miễn trả tiền thuốc và tiền ăn ở bệnh viện. Sau 2 năm, nếu vết thương trở lại, thương binh vẫn được miễn trả tiền thuốc và tiền ăn nhưng nếu bị đau ốm mà không phải vì vết thương trở lại, thương binh vẫn được miễn trả tiền thuốc và tiền ăn nhưng nếu bị đau ốm mà không phải vì vết thương trở lại thì thương binh sẽ trả tiền thuốc và tiền ăn, trừ trường hợp túng thiếu thì có thể được miễn hoặc giảm một phần.
- Các sự chiếu cố của các ngành
- Điều 13 – Các ngành như quốc doanh vận tải, điện ảnh, văn công, mậu dịch, ngân hàng…tùy theo khả năng của ngành mình sẽ ra những quy định cụ thể để chiếu cố thương binh.
- Huy hiệu thương binh
- Điều 14. – Thương binh được cấp huy hiệu thương binh.
- Sự giúp đỡ của địa phương
- Điều 15. – Thương binh về địa phương được chính quyền và các đoàn thể nhân dân giúp đỡ về vật chất và tinh thần. Trong các cuộc vui, ngày lễ, thương binh được mời ngồi chỗ tốt; tùy theo khả năng được sắp xếp tham gia công tác ở địa phương.
- Chương 3: ƯU ĐÃI BỆNH BINH
- Điều 16. – Bệnh binh vì điều kiện sức khỏe mà giải ngũ thì được giúp đỡ để tổ chức đời sống như sau:
- Điều 17. – Bệnh binh về địa phương được hưởng những khoản trợ cấp sau đây:
- Điều 18. – Bệnh binh thiếu ruộng cày thì được ưu đãi trong việc chia cấp ruộng đất như đã quy định trong Luật cải cách ruộng đất.
- Điều 19. – Bệnh binh được ưu đãi về thuế nông nghiệp như sau:
- Điều 20. – Bệnh binh được chiếu cố trong việc khám bệnh và nằm điều trị ở bệnh viện và được miễn trả tiền thuốc và tiền ăn ở bệnh việc trong thời gian còn là bệnh binh.
- Điều 21. – Bệnh binh về địa phương làm ăn hay an dưỡng được chính quyền và các đoàn thể nhân dân giúp đỡ về vật chất và tinh thần. Trong các cuộc vui, ngày lễ, được mời ngồi chỗ tốt. Sau khi bệnh đã khỏi được sắp xếp tham gia công tác ở địa phương tùy theo khả năng.
- Điều 22. – Mỗi năm, bệnh binh được bệnh viện của nhà nước khám lại một lần. Nếu bệnh đã khỏi hoặc giảm đến mức không cần phải điều dưỡng nữa thì không gọi là bệnh binh nữa.
- CHƯƠNG 4: ƯU ĐÃI DÂN QUÂN, DU KÍCH, THANH NIÊN XUNG PHONG BỊ THƯƠNG TẬT
- Điều 23. – Dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật được chính quyền và các đoàn thể nhân dân địa phương giúp đỡ trong công việc làm ăn.
- Điều 24. – Dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, nếu thiếu ruộng cày thì được ưu đãi trong việc chia cấp ruộng đất, như đã quy định đối với thương binh trong Luật cải cách ruộng đất.
- Điều 25. – Nếu vết thương trở lại, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật được chiếu cố trong việc khám bệnh và điều trị ở bệnh viện và được miễn trả tiền ăn và tiền thuốc ở bệnh viện.
- Điều 26. – Dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật tùy theo mức độ thương tật nặng hay nhẹ và mất sức lao động nhiều hay là ít, được xếp vào một trong sáu hạng thương tật đã được quy định do nghị định Liên bộ Thương binh-Quốc phòng-Y tế-Tài chính số 18-NĐ ngày 17 tháng 11 năm 1954 để được hưởng phụ cấp thương tật và hưởng phụ cấp sản xuất hay an dưỡng nếu làm ăn ở địa phương.
- Điều 27. – Dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật đã thoát ly sản xuất thì sẽ được giúp đỡ để tổ chức đời sống như đã quy định đối với thương binh trong điều 5 bản điều lệ này, và nếu trở về địa phương làm ăn thì sẽ được hưởng một khoản trợ cấp về địa phương sản xuất, do nghị định Liên bộ Thương binh- Quốc phòng-Tài chính ấn định.
- CHƯƠNG 5: NHIỆM VỤ CỦA THƯƠNG BINH, BỆNH BINH, DÂN QUÂN, DU KÍCH, THANH NIÊN XUNG PHONG BỊ THƯƠNG TẬT
- Điều 28. – Ngoài những sự ưu đãi quy định trong bản điều lệ này, thương binh, bệnh binh, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật có quyền lợi như mọi công dân khác và có nhiệm vụ chấp hành các chủ trương, chính sách của Chính phủ, tuân theo pháp luật, giữ vững và phát huy tác dụng gương mẫu của người chiến sĩ cách mạng.
- ĐIỀU LỆ VỀ ƯU ĐÃI GIA ĐÌNH LIỆT SĨ
Điều lệ này được hướng dẫn bởi Thông tư 86-TTg năm 1957 có hiệu lực từ ngày 28/03/1957
Điều lệ được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư 59-TB-SL5 năm 1956 có hiệu lực từ ngày 01/11/1956 - Điều 1. – Bản điều lệ này quy định để đền đáp công ơn liệt sĩ, ưu đãi gia đình liệt sĩ (phụ lục về định nghĩa liệt sĩ kèm theo).
- Điều 2. – Gia đình liệt sĩ gồm những thân nhân của liệt sĩ xếp theo thứ tự trước sau như dưới đây:
Điều này được hướng dẫn bởi Phần B Mục I Thông tư 59-TB-SL5 năm 1956 có hiệu lực từ ngày 01/11/1956
- Điều 3. – Gia đình liệt sĩ được tặng thưởng bằng “Tổ quốc ghi công” và giấy chứng nhận “Gia đình liệt sĩ”
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 1 Mục II Thông tư 59-TB-SL5 năm 1956 có hiệu lực từ ngày 01/11/1956
- Điều 4. – Gia đình liệt sĩ được nhân dân và chính quyền tùy hoàn cảnh chú ý giúp đỡ trong việc làm ăn.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 2 Mục II Thông tư 59-TB-SL5 năm 1956 có hiệu lực từ ngày 01/11/1956
- Điều 5. – Gia đình liệt sĩ thiếu ruộng cày được ưu đãi trong việc chia cấp ruộng đất. Trong việc chia trâu bò, nông cụ, lương thực và tài sản tịch thu, trưng thu, trưng mua của địa chủ, gia đình liệt sĩ được chiếu cố.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 3 Mục II Thông tư 59-TB-SL5 năm 1956 có hiệu lực từ ngày 01/11/1956
- Điều 6. – Gia đình liệt sĩ được tính mỗi liệt sĩ là một nhân khẩu trong thuế nông nghiệp.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 4 Mục II Thông tư 59-TB-SL5 năm 1956 có hiệu lực từ ngày 01/11/1956
- Điều 7. – Gia đình liệt sĩ được chiếu cố trong việc tuyển dụng vào cơ quan, xí nghiệp, trường chuyên nghiệp v .v… con em liệt sĩ được chiếu cố trong việc tuyển lựa học sinh vào các trường học và được giúp đỡ trong việc học tập. Con em liệt sĩ nghèo được ưu tiên trong việc xét cấp học bổng.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 5 Mục II Thông tư 59-TB-SL5 năm 1956 có hiệu lực từ ngày 01/11/1956
- Điều 8. – Trong các ngày lễ, cuộc vui, gia đình liệt sĩ được mời ngồi chỗ tốt.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 6 Mục II Thông tư 59-TB-SL5 năm 1956 có hiệu lực từ ngày 01/11/1956
- Điều 9. – Các ngành như Mậu dịch, Ngân hàng, Quốc doanh vận tải, Điện ảnh sẽ ra những quy định chiếu cố các gia đình liệt sĩ theo khả năng của mình.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 7 Mục II Thông tư 59-TB-SL5 năm 1956 có hiệu lực từ ngày 01/11/1956
- Điều 10. – Trong việc Chính phủ cứu tế hay cho nhân dân vay, gia đình liệt sĩ được chiếu cố.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 8 Mục II Thông tư 59-TB-SL5 năm 1956 có hiệu lực từ ngày 01/11/1956
- Điều 11. – Ngoài các khoản ưu đãi nói trên, gia đình liệt sĩ được cấp một khoản tiền tuất do Thủ tướng Phủ ấn định.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 9 Mục II Thông tư 59-TB-SL5 năm 1956 có hiệu lực từ ngày 01/11/1956
- Điều 12. – Ngoài các khoản ưu đãi nói trong bản điều lệ này, gia đình liệt sĩ có các quyền lợi, nghĩa vụ như mọi công dân khác.
- ĐỊNH NGHĨA LIỆT SĨ
- ĐIỀU LỆ VỀ ƯU ĐÃI GIA ĐÌNH QUÂN NHÂN
Điều lệ này được hướng dẫn bởi Thông tư 86-TTg năm 1957 có hiệu lực từ ngày 28/03/1957
- Điều 1. – Quân nhân mà gia đình được hưởng các khoản ưu đãi của điều lệ này là các cán bộ và chiến sĩ tại ngũ thuộc các tổ chức của quân đội nhân dân Việt nam và các bộ đội cảnh vệ, bộ đội bảo vệ.
- Điều 2. – Gia đình quân nhân gồm những thân nhân của quân nhân xếp thứ tự trước sau như dưới đây:
- Điều 3. – Gia đình quân nhân từ khi thành lập quân đội tới ngày ban hành điều này, được tăng thưởng bảng “Gia đình vẻ vang” hoặc là “Bảng vàng danh dự”
- Điều 4. – Gia đình quân nhân tại ngũ được nhân dân và chính quyền giúp đỡ trong việc sinh sống làm ăn, tùy theo điều kiện cho phép.
- Điều 5. – Gia đình quân nhân tại ngũ thiếu ruộng cày được ưu đãi trong việc chia cấp ruộng đất, theo như Luật cải cách ruộng đất đã quy định.
- Điều 6. – Gia đình quân nhân tại ngũ được tính mỗi quân nhân tại ngũ là một nhân khẩu trong thuế nông nghiệp.
- Điều 7. – Gia đình quân nhân tại ngũ được chiếu cố trong việc tuyển dụng vào cơ quan, xí nghiệp, trong việc tuyển lựa học sinh vào các trường.
- Điều 8. – Trong việc Chính phủ cứu tế hay cho nhân dân vay, gia đình quân nhân được chiếu cố.
- Điều 9. – Gia đình quân nhân tại ngũ từ trần được cấp một lần một khoản tiền tuất do Bộ Thương binh ấn định thỏa thuận với Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính.
Nghị định số 980-TTg ngày 27/07/1956 Về bản điều lệ ưu đãi thương binh, dân quân du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, bản điều lệ ưu đãi gia đình liệt sĩ và bản điều lệ ưu đãi gia đình liệt sĩ và bản điều lệ ưu đãi gia đình quân nhân do Thủ Tướng ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 980-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Phủ Thủ tướng
- Ngày ban hành: 27-07-1956
- Ngày có hiệu lực: 11-08-1956
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Nghị định số 980-TTg ngày 27/07/1956 Về bản điều lệ ưu đãi thương binh, dân quân du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, bản điều lệ ưu đãi gia đình liệt sĩ và bản điều lệ ưu đãi gia đình liệt sĩ và bản điều lệ ưu đãi gia đình quân nhân do Thủ Tướng ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết (3)
- Thông tư liên bộ số 027-NV ngày 05/05/1961 Hướng dẫn vận dụng tiêu chuẩn thương binh đối với quân nhân bị thương trong hòa bình (Tình trạng hiệu lực không xác định) (05-05-1961)
- Thông tư số 86-TTg ngày 13/03/1957 Sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức về việc chấp hành chính sách ưu đãi gia đình liệt sĩ và các quân nhân cách mạng: quân nhân tại ngũ, thương bệnh binh, quân nhân giải ngũ và quân nhân phục viên (bao gồm quân nhân chuyển ngành, về xã, bị địch bắt trả lại sau hòa bình) do Phủ Thủ Tướng ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định) (13-03-1957)
- Thông tư số 59-TB-SL5 ngày 17/10/1956 Giải thích và hướng dẫn thi hành Điều lệ ưu đãi gia đình liệt sĩ do Bộ Thương binh ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định) (17-10-1956)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh