- NGHỊ ĐỊNH VỀ VIỆC LÀM CÁC NGHỀ CHỮA BỆNH, HỘ SINH, CHỮA RĂNG, BÀO CHẾ THUỐC VÀ BÁN THUỐC
- Điều 1.- Nay ban hành các điều lệ tạm thời về việc làm các nghề chữa bệnh, hộ sinh , chữa răng, bào chế thuốc và bán thuốc, kèm theo nghị định này.
- Điều 2.- Các điều khoản ban hành trước đây trái với bản điều lệ này đều bị bát bỏ.
- Điều 3.- Bộ y tế sẽ ban hành những chi tiết về thi hành bản điều lệ này.
- Điều 4.- Ông Bộ trưởng Bộ Y tế chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.
- ĐIỀU LỆ TẠM THỜI VỀ VIỆC CHO PHÉP LÀM CÁC NGHỀ CHỮA BỆNH, HỘ SINH, CHỮA RĂNG, BÀO CHẾ THUỐC VÀ BÁN THUỐC
- Chương 1: MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA.
- Điều 1. - Bản điều lệ tạm thời này về việc cho phép làm các nghề: chữa bệnh, hộ sinh, chữa răng, bào chế thuốc và bán thuốc nhằm mục đích:
- Chương 2: ĐIỀU KIỆN CHO PHÉP
- A.- CHỮA BỆNH.
- 1.- Làm nghề chữa bệnh theo Tây y.
- Điều 2.- Những người có một trong những bằng kê sau đay được phép chữa bệnh theo Tây y:
- Điều 3. - Trong khi chờ đợi những quy chế mới những y tá có thể chữa các bệnh với những điều kiện sau đây:
- Điều 4.- Muốn xin làm nghề, các y sĩ, bác sĩ phải gửi kèm theo đơn, bản sao văn bằng, nếu mở bệnh viện phải gửi kèm theo sơ đồ bệnh viện của mình.
- 2.- Làm nghề chữa bệnh theo Đông y:
Nội dung này được hướng dẫn bởi Thông tư 396-ĐY/BYT năm 1958 có hiệu lực từ ngày 13/05/1958
- Điều 5. - Những người làm nghề chữa bệnh theo Đông Y chia làm ba loại:
- Điều 6. – Các thầy thuốc đông y được dùng:
- Điều 7 .- Các thầy thuốc Đông y được phép dùng những thuốc bắc hoặc nam có chất độc như: nhân ngôn, phụ tử, thiên liên tử, cà độc dược, mã tiền,,, nhưng việc dùng các chất độc ấy đễ chữa bệnh có thể nguy hại tới tính mệnh của nhân dân, nên thầy thuốc phải chịu trách nhiệm về liềư lượng và chất độc đã sử dụng, và phải có sổ sách rõ ràng( sẽ có quy định riêng).
- Điều 8.- Những điều kiện để được làm nghề chữa bệnh theo Đông y sẽ quy định sau. Tạm thời những người đã thực sự làm nghề chữa bệnh theo Đông Y trước ngày 21-7-1954 có giấy chứng nhận của Ủy ban hành chính địa phương từ cấp xã trở lên ở nông thôn, và từ cấp quận trở lên thành phố, có thể đề nghị xin tiếp tục làm nghề .Đơn xin tiếp tục làm nghề phải kèm theo giấy chứng nhận của Ủy ban Hành chính địa phương. Những người làm nghề sau ngày 21-7-1954 muốn xin làm nghề có thể nộp đơn kèm giấy chứng nhận của Ủy ban Hành chính địa phương. Bộ y tế sẽ xét định tuỳ theo từng trường hợp cụ thể.
- B. HỘ SINH:
- Điều 9: - Được làm nghề hộ sinh:
- Điều 10.- Những bà mụ và hộ sinh sơ cấp chỉ được những trường hợp đẻ thường, trường hợp đẻ khó phải gửi sản phụ đi bệnh viện hay nhà hộ sinh có y sĩ hoặc hộ sinh được Bộ y tế cử điều khiển.
- Điều 11.- Muốn mở nhà hộ sinh thì ngoài điều kiện văn bằng, đương sự phải có trụ sở đủ điều kiện vệ sinh do Bộ y tế ấn định và do cơ quan Y tế địa phương xét nhận.
- Điều 12.- Muốn xin làm nghề, các đương sự phải gửi theo đơn , bản sao văn bằng hoặc giấy chứng nhận của Ủy ban Hành chính địa phương đối với các bà mụ.
- C.- CHỮA RĂNG
- Điều 13.- Được phép làm nghề chữa răng:
- Điều 14.- Đối với những người làm thợ trồng răng không có bằng chuyên môn về nha khoa sẽ phải qua một kỳ sát hạch trước một Hội đồng sẽ chính thức cho phép và qui định phạm vi làm nghề tuỳ theo trình độ của từng người như : chỉ được trồng răng hoặc chỉ nhổ và trồng răng. Những người chỉ được trồng răng không được chữa và nhổ răng trong trường hợp dễ. Đối với những người chưa được sát hạch sẽ được phép tạm thời tiếp tục làm nghề nếu có đủ giấy tờ chứng minh đã thực sự làm nghề trước ngày 21-7-1954.
- Điều 15.- Các thợ làm răng tuỵêt đối không được làm nghề một cách lưu động, mà phải làm việc một trụ sở nhất định, trụ sở làm việc phải đầy đủ điều kiện vệ sinh.Người thợ trồng răng phải trực tiếp làm công việctrồng răng chứ không để người giúp việc thay thế mình. Trong khi làm nghê, tuyệt đối không được dùng địên để chữa bệnh, dùng thuốc gậy mê. Về thuốc tê chỉ đựơc dùng những thuốc tê như: nô-vo-ca-in không có a-đơ-rê-na-lin và cơ-lô-ruya-đê-tin để gây tê tại chỗ.
- Điều 16.- Những người mở cửa hàng bán dụng cụ và nguyên liệu về răng giả có giấy tờ chứng minh đã thực sự làm nghề trước ngày 21-7-1954 vẫn được tiếp tục làm nghề nhưng không được buôn bán thuốc dùng để chữa răng và nhổ răng như các loại: nô-vo-ca-in , a-xit ac-xê-mi-ơ, a-xit tờ-ri-cơ-lo-ra-xê-rich....
- Đìều 17.- Muốn xin làm nghề các bác sĩ nha khoa , nha sĩ phải gửi kèm theo đơn bản sao văn bằng: các thợ trồng răng và các người mở hiệu bán dụng cụ và nguyên liệu về răng phải gửi kèm theo đơn những giấy chứng nhận đã trúng tuyển qua một kỳ sát hạch hoặc đã thực sự làm nghề trước ngày 21-7-1954.
- D.- BÀO CHẾ THUỐC VÀ BÁN THUỐC
- I.- Hiệu thuốc tây
- Điều 18.- Được mở hiệu thuốc tây hoặc phòng bào ché những người có:
- Điều 19. – Các dược sĩ được:
- Điều 20. Đối với các loại thuốc độc bảng A và bảng bác sĩ, các biệt dược của bảng B phải đề vào tủ riêng và có đơn của y sĩ, bác sĩ các hiệu thuốc mới có quyền bán. Riêng đối với thuốc độc bảng B các hiệu thuốc không được bán nguyên chất và không đựoc thi hành những đơn kê số lượng thuốc quá bảy ngày. Các đơn thuốc phải ghi vào sổ riêng và giữ lại trong thời gian 5 năm để khi cần xuất trình cho cơ quan y tế.
- Điều 21.- Việc bào chế các thuốc phải tự tay dược sĩ làm, trường hợp bận,công việc bào chế có thể do dược tá làm, nhung dược sĩ chủ nhân phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những thuốc đó.
- Điều 22.- Các hiệu thuốc tây thống nhất lấy tên là: “Hiệu thuốc tây “kèm theo tên hiệu.
- Điều 23: - Các dược sĩ phải có mặt ở hiệu thuốc và phòng bào chế trong những giờ mở cửa. Trường hợp đi vắng lâu có thể nhờ một dược sĩ khác trông nom giúp, sau khi được Bộ y tế đồng ý, thời gian thay thế không được quá một năm.
- Điều 24.- Ngoài những sổ sách do Bộ Tài chính, Bộ Thương nghiệp quy định cho tất cả các loại kinh doanh công thương nghiệp, các hiệu thuốc tây và phòng bào chế mở thêm các số sau đây:
- Điều 25.- Các hiệu thuốc tây hoặc phòng bào chế phải có đủ điều kiện vệ sinh do Bộ Y tế ấn định.
- Điều 26.- Muốn xin làm nghề, các dược sĩ phải gữi kèm theo đơn, bản sao bằng dược sĩ, hoặc giấy chứng nhận của Bộ Y tế.
- 2.- Đại lý thuốc tây:
- Điều 27.- Được mở“ đại lý thuốc tây” những người.
- Điều 28.- Các đại lý thuốc tây chỉ được bán:
- Điều 29.- Các đại lý thuốc tây không được sản xuất thuốc, bào chế thuốc đề bản hoặc bào chế thuốc theo đơn của y sĩ,bác sĩ.
- Điều 30.- Hiện đại lý thuốc tây thống nhất lấy tên là : Đại lý thuốc tây” kèm theo tên hiệu.
- Điều 31.- Người đại lý thuốc tây phải có mặt ở cửa hàng và chịu trách nhiệm hoàn toàn về những thuốc do cửa hàng mình bán ra, các cửa hàng phải có đủ điều kiện bảo đảm việc bảo quản thuốc không bị hư hỏng.
- Điều 32.- Trường hợp đại lý thuốc tây có bán thêm các thứ hàng khác như :tạp hoá, cao đơn hoàn tán v.v... thì không được để lẫn lộn mà phải có tủ riêng đựng thuốc tây.
- Điều 33.- Các đại lý thuốc tây được mở cửa hàng tại các thành phố, tỉnh lỵ, thị trấn, các chợ. Só đại lý thuốc tây tại một địa phương không được quá số cần thiết phục vụ nhân dân số này do Ủy ban Hành chính tỉnh ấn định.
- Điều 34.- Nơi nào chưa có hiệu thuốc hoặc đại lý thuốc tây thì các hàng tạp hoá có thể được bán một số thuốc thông thường sau đây để nhân dân dùng:
- 3.- Bán thuốc Đông y
- Điều 35.- Những người bán thuốc Đông y gồm có:
- Điều 36.- Những người bán thuốc Đông y được bán các dược liệu thuộc khoáng chất thảo mộc hay động vật dùng dưới hình thức nguyên liệu hoặc sau khi đã pha chế theo lối cỗ truyền. Riêng về chất độc như: nhân ngôn, hoàng nan, phụ tử, thiên liên tử, mã tiền, cà độc dược.v.v...( Bộ Y tế sẽ ra bản quy định riêng)với điều kiện là phải mở riêng số kê khai từng loại chất độc, cùng số lượng xuất nhập và tồn kho hàng ngày, những thuốc này phải có chỗ để riêng.
- Điều 37.- Những hiệu làm hoặc bán thuốc bắc, thuốc nam hoặc cao đơn, hoàn tán, thống nhất lấy tên là : “Hiệu thuốc Đông y” kèm theo tên hiệu.
- Điều 38.- Những người bán thuốc bắc, thuốc nam không được chữa bệnh như các thầy thuốc Đông y, trừ trường hợp nói trong điều 5.
- Điều 39.- Muốn xin làm nghề, đương sự phải gửi kèm theo đơn, giấy chứng nhận đã thực sự làm nghề bán thuốc Đông y trước ngày 21 tháng 7 năm 1954 của Ủy ban Hành chính địa phương từ cấp xã trở lên ở nông thôn và cấp quận trở lên ở thành thị. Những người làm nghề sau ngày 21 tháng 7 năm 1954 muốn xin làm nghề có thể nộp đơn kèm theo giấy chứng nhận của Ủy ban Hành chính địa phương. Bộ Y tế sẽ xét định tuỳ theo từng trường hợp cụ thể. Những người bán ở chợ những lá cây dùng chữa bệnh nếu được Ủy ban Hành chính xã chứng nhận vẫn được tiếp tục làm nghề.
- Chương 3: ĐIỀU KHOẢN CHUNG
- Điều 40.- Các người làm nghề chữa bệnh, hộ sinh, chữa răng, bào chế thuốc, bán thuốc Tây y, Đông y đều phải 25 tuổi trở lên, được Ủy ban Hành chính địa phương chứng nhận hạnh kiểm tốt.
- Điều 41.- Những người làm nghề chữa bệnh, hộ sinh, chữa răng phải thuộc quyền kiểm soát của các cơ quan Y tế và phải đăng ký ở các cơ quan Y tế tỉnh hay thành phố.
- Điều 42.- Thuốc bán ra phải tốt, những thứ đã hỏng, quá hạn, vấn đục, mốc phải bỏ đi không được bán.
- Điều 43.- Những người làm nghề chữa bệnh ở, hộ sinh, chữa răng, bán thuốc không được dùng dấu hiệu “ hồng thập tự” ở cửa hàng, trên sổ sách và nhãn thuốc.
- Điều 44.- Những người làm nghề trên mà không tuân theo điều lệ này thì sẽ tuỳ lỗi nhẹ hay nặng mà bị phê bình, cảnh cáo hoặc bị truy tố trước toà án và xử theo luật trừng phạt các vi phạm vào điều lệ , bị can có thể bị thu hồi giấy phép có thời hạn và vĩnh viễn.
- Điều 45.- Gặp những trường hợp chưa được quy định trong bản điều lệ tạm thời này thì các Ủy ban Hành chính sẽ báo cáo lên Bộ Y tế xét định.
Nghị định số 965-TTg ngày 11/07/1956 Về việc làm các nghề chữa bệnh, hộ sinh, chữa răng, bào chế thuốc và bán thuốc do Thủ tướng ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 965-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Phủ Thủ tướng
- Ngày ban hành: 11-07-1956
- Ngày có hiệu lực: 26-07-1956
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Nghị định số 965-TTg ngày 11/07/1956 Về việc làm các nghề chữa bệnh, hộ sinh, chữa răng, bào chế thuốc và bán thuốc do Thủ tướng ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết (3)
- Thông tư số 396-ĐY/BYT ngày 28/04/1958 Hướng dẫn thi hành bản điều lệ tạm thời về việc cho phép làm các nghề chữa bệnh bán thuốc (Tình trạng hiệu lực không xác định) (28-04-1958)
- Thông tư số 106-BYT/TT ngày 26/02/1958 của Bộ trưởng Bộ Y tế Giải thích điều 34 Nghị định 965-TTC về điều lệ tạm thời cho phép làm các nghề chữa bệnh, hộ sinh, chữa răng, bào chế thuốc và bán thuốc (Tình trạng hiệu lực không xác định) (26-02-1958)
- Thông tư liên bộ số 20-TT ngày 03/02/1958 Về quản lý thuốc tây do Bộ Y Tế-Bộ Thương Nghiệp ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định) (03-02-1958)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh