- Số: 82-TP/NĐ BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP
- Chương 1: THÀNH LẬP TÒA ÁN QUÂN SỰ
- Điều 1: – Tòa án quân sự đặt tại các nơi sau này:
- Điều 2:– Ủy ban hành chính Trung kỳ trong địa hạt kỳ ấy có thể đề nghị lên bộ Tư pháp mở thêm tòa án quân sự ở những nơi trọng yếu khác.
- Điều 3:– Quản hạt các tòa án ở Bắc kỳ là:
- Điều 4: – Quản hạt những tòa án quân sự ở Trung kỳ và Nam kỳ sẽ do nghị định của Ủy ban Hành chính kỳ ấn định sau khi thỏa hiệp với ông Chưởng lý tòa Thượng thẩm.
- Điều 5: – Các công cáo ủy viên trực tiếp đặt dưới quyền kiểm soát của hai ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng bộ Tư pháp và phải tuân theo huấn lệnh của hai ông ấy cùng ký.
- Điều 6: – Trụ sở tòa án quân sự ở nơi nào thì đặt ngay sở tại tòa án đệ nhị cấp hay tòa Thượng thẩm ở nơi ấy.
- Điều 7: – Tòa án quân sự xử công khai. Nếu có duyên cớ đặc biệt tòa có thể quyết định xử kín.
- Điều 8: – Bị cáo có quyền tự bênh vực lấy hay nhờ luật sư hoặc một người khác bênh vực.
- Chương 2: THỦ TỤC
- Điều 9: – Mỗi khi sẩy ra một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì bất cứ ai cũng phải báo ngay cho ty liêm phóng hoặc nhà chức trách địa phương biết.
- Điều 10: – Công cáo ủy viên nhận được hồ sơ có nhiệm vụ:
- Điều 11: – Nhận được hồ sơ, ông chánh án tòa án quân sự ra lệnh cho lục sự vào sổ thụ lý rồi đòi các bị cáo đến trước mặt để hỏi xem họ có ai bênh vực không hay có xin cử ai bênh vực không; lời hỏi và câu trả lời phải ghi vào một biên bản. Nếu bị cáo xin cử một người bênh vực thì ông chánh án sẽ ra mệnh lệnh cử.
- Điều 12: – Từ lúc việc đã thụ lý, luật sư hay người bênh vực cho bị cáo được quyền xem hồ sơ tại phòng lục sự, yêu cầu ông chánh án cho điều tra thêm gọi chứng tá thêm hay thi hành những việc có ích cho sự phát minh sự thực, và có thể giao thiệp thẳng với bị cáo bằng thư từ hay tới thăm.
- Điều 13: – Trong tời kỳ dự thẩm bị báo hay người bênh vực cho hắn hay một hội thẩm có thể đệ lên ông chánh án đơn nại rằng tòa án quân sự không có thẩm quyền. Chính ông chánh án cũng có thể tự mình nại điều ấy ra.
- Điều 14: – Bị cáo và người bênh vực cho hắn phải nhận được giấy báo ngày và nơi xét xử án của lục sự ít nhất là 2 hôm trước ngày họp phiên toà.
- Điều 15:– Tại phiên tòa ông chánh án điều khiển cuộc tranh luận và giữ trật tự trong hội đồng. Nếu có kẻ làm rối trật tự ông chánh án có thể ra mệnh lệnh tức khắc tống giam trong 48 giờ hay giao sang cho ông biện lý của tư pháp truy tố nếu phạm vào hình luật.
- Điều 16:– Trong lúc thẩm vấn giữa phiên tòa ông chánh án và công cáo ủy viên có quyền hỏi thẳng bị cáo và các người làm chứng, còn hai hội thẩm và người bệnh vực cho bị cáo thì phải yêu cầu ông chánh án đặt câu hỏi. Chính bị cáo cũng có quyền xin ông chánh án đặt câu hỏi.
- Điều 17:– Chứng tá phải hỏi riêng từng người, trong lúc hỏi một người thì những người chưa khai không đươc dự thính
- Điều 18:– Tóa án có toàn quyền ra mệnh lệnh để thi hành mọi việc có ích cho sự phát minh sự thực
- Điều 19:– Sau khi các bị cáo và người làm chứng đã khai xong, công cáo ủy viên đứng lên luận tội rồi đến lượt bị báo và người bào chữa cho bị cáo biện luận.
- Điều 20:– Trong lúc thẩm vấn cho đến khi tuyên án, công cáo ủy viên, bị báo hay người bênh vực hắn, co thể nại rằng tòa án quân sự không có thẩm quyền. Chính tòa án cũng có thể tự mình nại điều ấy ra.
- Điều 21:– Khi án tuyên tha bổng thì bản án đồng thời ra lệnh cho công cáo ủy viên lập tức tha cho bị cáo về và hoàn lại các tang vật và truyền lục sự lưu trữ hồ sơ. Tiền phí án, công quỹ chịu.
- Điều 22: – Khi án tuyên tử hình thì bản án phải ghi chép sự thi hành điều 11 của sắc lệnh ngày 14 tháng 2 năm 1946 về quyền xin ân giảm.
- Điều 23:– Công cáo ủy viên có nhiệm vụ thi hành các bản án.
- Điều 24:– Sau mỗi phiên tòa viên hội thẩm chuyên môn, ông cáo ủy viên, mỗi người gửi riêng một tờ trình về bộ Tư pháp về những án đã tuyên và về tình hình dư luận cùng ý kến riêng của mình.
- Điều 25: – Những tranh tụng xẩy ra trong khi thi hành các án của tòa án quân sự sẽ do tòa ấy phân xử.
- Điều 26: – Nếu mỗi khoản trong sắc lệnh ngày 14 tháng 2 năm 1946 về tòa án quân sự và trong nghị định này không được áp dụng, thì bị cáo, thân nhân hay người bênh vực của hắn có thể đệ đơn khiếu nại lên Chủ tịch Chính phủ.
- Điều 27:– Nghị định này sẽ thi hành 48 giờ sau khi ký.
- Điều 28:– Ông Đổng lý sự vụ bộ Tư pháp chiếu nghị định thi hành.
Nghị định số 82-TP/NĐ ngày 25/02/1946 Về tổ chức lại tòa án quân sự do Bộ trưởng Bộ Tư Pháp ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 82-TP/NĐ
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Bộ Tư pháp
- Ngày ban hành: 25-02-1946
- Ngày có hiệu lực: 12-03-1946
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh