- THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN THI HÀNH CHẾ ĐỘ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN VÀ TRÍCH LẬP CÁC QUỸ XÍ NGHIỆP ĐỂ ÁP DỤNG TRONG CẢ NƯỚC TỪ NĂM 1977 TRỞ ĐI
- I. XÁC ĐỊNH RÕ CÁC KHOẢN LỢI NHUẬN KẾ HOẠCH VÀ LỢI NHUẬN THỰC TẾ
- 1. Lợi nhuận kế hoạch của xí nghiệp gồm:
- 2. Lợi nhuận thực tế của xí nghiệp là toàn bộ các khoản lợi nhuận sau khi đã trừ đi các khoản lỗ, được ghi trong báo cáo quyết toán hàng tháng, hàng quý và hàng năm của xí nghiệp.
- 3. Nếu trong thời gian kế hoạch, do giá cả thay đổi mà số thu về lợi nhuận tăng lên, thì xí nghiệp phải nộp toàn bộ số tiền thu thêm được do giá cả thay đổi vào ngân sách Nhà nước.
- 4. Đối với xí nghiệp được duyệt là không có lãi hoặc có kế hoạch lỗ (lỗ do chính sách giá cả của Nhà nước hay do nguyên nhân khác được Nhà nước công nhận) thì xác định chỉ tiêu lợi nhuận kế hoạch và lợi nhuận vượt kế hoạch như sau:
- II. PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN XÍ NGHIỆP
- 1. Trường hợp xí nghiệp chỉ hoàn thành kế hoạch về hai chỉ tiêu chủ yếu (không toàn diện, không có đăng ký cao) thì lợi nhuận phân phối như sau:
- 2. Trường hợp xí nghiệp hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu pháp lệnh của kế hoạch Nhà nước thì được trích lập quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi theo mức khuyến khích cao hơn mức trích cơ bản (xem quy định ở mục IV dưới đây).
- 3. Trường hợp xí nghiệp có đăng ký cao – Nhà nước khuyến khích xí nghiệp xây dựng kế hoạch tích cực, chính xác và đăng ký cao hơn số kiểm tra Nhà nước giao chủ yếu bằng cách khai thác các khả năng tiềm tàng trong xí nghiệp.
- 4. Phần lợi nhuận vượt kế hoạch nói chung phân phối như sau: trích thêm vào quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi, mỗi quỹ 5% số lợi nhuận vượt kế hoạch.
- 5. Trường hợp xí nghiệp có lợi nhuận sản xuất mặt hàng phụ bằng phế liệu phế phẩm.
- III. TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG QUỸ KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT
- 1. Quỹ khuyến khích phát triển sản xuất dùng cho việc hợp lý hoá sản xuất và cải tiến kỹ thuật nhằm vào những công việc đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực cụ thể sau đây:
- 2. Áp dụng thống nhất cho xí nghiệp thuộc tất cả các ngành sản xuất, lưu thông phân phối và phục vụ mức trích cơ bản hàng năm theo một tỷ lệ phần trăm trên toàn bộ giá trị tài sản cố định hiện có ở xí nghiệp tính theo nguyên giá (loại trừ các tài sản cố định cho phép không tính khấu hao là đất và tài sản cố định đã có quyết định của cơ quan có thẩm quyền giao cho xí nghiệp tạm giữ chờ điều đi).
- 3. Từ nay, không điều chỉnh mức trích cơ bản nói trên theo tỷ suất doanh lợi tăng giảm hàng năm, tỷ suất này chỉ dùng để kiểm tra hiệu quả và chất lượng thực hiện kế hoạch sản xuất – kỹ thuật – tài chính của xí nghiệp.
- 4. Nguồn vốn được trích lập quỹ khuyến khích phát triển sản xuất bao gồm:
- 5. Việc trích lập quỹ khuyến khích phát triển sản xuất mở rộng thêm quyền chủ động của xí nghiệp để tự lo liệu lấy nhu cầu chi thường xuyên của mình về cải tiến kỹ thuật và hợp lý hoá sản xuất.
- 6. Quỹ khuyến khích phát triển sản xuất được trích hàng tháng (hoặc hàng quý) sau khi đã có báo cáo quyết toán (bảng tổng kết tài sản) của xí nghiệp:
- 7. Trường hợp xí nghiệp có kế hoạch lợi nhuận, nhưng khi thực hiện lại không có lợi nhuận hoặc bị lỗ tức là mất nguồn để trích lập quỹ khuyến khích phát triển sản xuất thì xí nghiệp không được trích mà phải vay vốn Ngân hàng Nhà nước, nếu cần để chi cho kế hoạch phát triển sản xuất và sẽ dùng quỹ khuyến khích phát triển sản xuất năm sau để trả.
- 8. Trường hợp xí nghiệp không có lợi nhuận hoặc có lỗ kế hoạch (do chính sách giá cả của Nhà nước hay do nguyên nhân khách quan khác được Nhà nước công nhận) thì được ngân sách cấp số vốn cần thiết theo kế hoạch phát triển sản xuất được duyệt.
- 9. Sau khi hoàn thành mỗi danh mục sử dụng quỹ khuyến khích phát triển sản xuất, xí nghiệp phải quyết toán và ghi tăng giá trị tài sản cố định hoặc ghi tăng vốn lưu động.
- 10. Quỹ khuyến khích phát triển sản xuất thuộc quyền sử dụng của xí nghiệp.
- 11. Hàng năm, trong quá trình lập kế hoạch cũng như khi phân tích hiệu quả sử dụng quỹ khuyến khích phát triển sản xuất, phải có sự tham gia ý kiến của công đoàn cơ sở, nhất là ý kiến của công đoàn về các khoản chi bảo vệ an toàn lao động.
- IV. TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG QUỸ KHEN THƯỞNG VÀ QUỸ PHÚC LỢI
- 1. Quỹ khen thưởng dùng để:
- 2. Quỹ phúc lợi dùng để:
- 3. Việc xét trích hai quỹ khen thưởng và phúc lợi này phải căn cứ vào báo cáo quyết toán của xí nghiệp và kết quả xét duyệt, công nhận xí nghiệp hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước mà phân biệt thích đáng mức khuyến khích vật chất giữa các xí nghiệp có thành tích nhiều ít khác nhau.
- 4. Sau khi đã tính ra mức trích cho hai quỹ khen thưởng và phúc lợi thì nguồn vốn trích lấy từ lợi nhuận xí nghiệp.
- 5. Trường hợp xí nghiệp có lợi nhuận do thực hiện kế hoạch đăng ký cao được duyệt và có lợi nhuận vượt kế hoạch thì lợi nhuận tăng thêm được phân phối bổ sung vào quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi theo quy định ở mục II, điểm 3 và 4 nói trên.
- 6. Về nguyên tắc, quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi là hai quỹ riêng biệt, không được điều hoà cho nhau.
- 7. Đến hết năm, các xí nghiệp lập báo cáo theo các chỉ tiêu Nhà nước quy định về báo cáo hoàn thành kế hoạch cuối năm.
- V. SỬ DỤNG LỢI NHUẬN ĐỂ THAM GIA ĐẦU TƯ VỐN CỐ ĐỊNH VÀ BỔ SUNG VỐN LƯU ĐỘNG ĐỊNH MỨC CẦN TĂNG THÊM THEO KẾ HOẠCH NHÀ NƯỚC
- 1. Tham gia đầu tư vốn cố định theo kế hoạch Nhà nước:
- VI. TRÍCH NỘP LỢI NHUẬN XÍ NGHIỆP VÀO NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
- 1. Các xí nghiệp quốc doanh trung ương và địa phương dù có nộp thu nhập thuần tuý dưới hình thức thu quốc doanh hay không đều có nghĩa vụ trích nộp lợi nhuận vào ngân sách Nhà nước, ngoài trường hợp có lý do khách quan được chấp nhận.
- 2. Việc trích nộp lợi nhuận tiến hành hàng tháng dựa trên cơ sở lợi nhuận thực tế đạt được căn cứ vào quyết toán (hoặc bảng cân đối tài khoản) đã được duyệt.
- 3. Các xí nghiệp đến hạn trích nộp lợi nhuận vào ngân sách Nhà nước mà chưa nộp thì cứ mỗi ngày chậm nộp phải nộp một số tiền phạt bằng 0,1% số tiền chậm nộp.
- VII. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
- 1. Giám đốc xí nghiệp có nhiệm vụ thực hiện tốt các điều khoản về việc phân phối lợi nhuận và trích lập các quỹ xí nghiệp quy định trong thông tư này.
- 2. Các công ty, các xí nghiệp quốc doanh (và công ty hợp doanh) thuộc các ngành sản xuất, cũng như các ngành lưu thông, phân phối và phục vụ trong cả nước, được áp dụng chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập các quỹ xí nghiệp là các đơn vị cơ sở sản xuất và kinh doanh có các điều kiện sau đây:
Thông tư số 03-TC/CNXD ngày 28/03/1978 Hướng dẫn thi hành chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập các quỹ xí nghiệp để áp dụng trong cả nước từ năm 1977 trở đi (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 03-TC/CNXD
- Loại văn bản: Thông tư
- Cơ quan ban hành: Bộ Tài chính
- Ngày ban hành: 28-03-1978
- Ngày có hiệu lực: 12-04-1978
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 1: 01-09-1982
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 2: 01-09-1982
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh