- THÔNG TƯ BỔ SUNG VÀ HƯỚNG DẪN VỀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ HỘ KHẨU.
- I. ĐĂNG KÝ CHUYỂN ĐI
- Điều 1. – Nếu cả hộ hoặc có người trong hộ chuyển chỗ ở trong phạm vi mợt xã, một thị trấn, một thị xã, một khu phố, một thành phố không chia khu phố, thì chủ hộ hoặc ngường trong hộ đến báo với công an xã, công an thị trấn, thị xã hoặc đồng công an nơi mình ở để ghi sự thay đổi nơi thường trú vào sổ hộ tịch, hộ khẩu.
- Điều 2. – Nếu cả hộ hoặc có người trong hộ chuyển chỗ ở ngoài phạm vi nói ở điều 1 trên đây thì chủ hộ hoặc người trong hộ đến báo với cơ quan quản lý hộ khẩu nơi mình ở để cấp giấy chứng nhận chuyển đi, theo thủ tục như sau:
- Điều 3. – Những trường hợp nhân dân xin chuyển đến các khu phố thuộc thành phố Hà-nội, Hải-phòng và các xã thuộc khu vực biên phòng, bờ biển, hải đảo, khu vực xung yếu về chính trị, quốc phòng, kinh tế thuộc các tỉnh, thành phố khác thì Sở, Ty công an nơi nhận đơn phải trao đổi trước với Sở, Ty công an nơi có người xin chuyển đến, và chỉ được cấp giấy chuyển đi sau khi đã có sự đồng ý của Sở, Ty công an nơi đương sự xin chuyển đến.
- Điều 4. – Khi đến cơ quan công an làm thủ tục di chuyển hộ khẩu, chủ hộ hoặc người chuyển đi phải mang theo những giấy tờ cần thiết như:
- Điều 5. – Bản khai của những người xin chuyển chỗ ở nói ở điểm c điều 2 trên đây sẽ nộp cho công an huyện, hoặc đồn công an nơi mình ở để xem xét và đề xuất ý kiến với Sở, Ty công an giải quyết.
- II. ĐĂNG KÝ CHUYỂN ĐẾN
- Điều 6.- Mọi trường hợp đăng ký thường trú cho những người từ nơi khác chuyển đến nhất thiết phải căn cứ vào giấy chứng nhận chuyển đi và các giấy tờ khác như đã quy định ở điều 2, 3 và 4 nói trên.
- Điều 7. – Khi chuyển đến nơi ở mới nếu là thành phố, thị xã, thị trấn thì trong thời hạn 3 ngày; nếu là ở nông thôn thì trong thời hạn 5 ngày, chủ hộ hoặc đương sự phải mang đầy đủ giấy tờ đến công an xã, công an thị trấn, đồn công an, công an thị xã, công an khu phố hoặc công an huyện nơi mình ở để làm thủ tục đăng ký hộ khẩu.
- III. ĐĂNG KÝ TẠM TRÚ
- Điều 8. – Khi có người ở địa phương khác đến tạm trú ban đêm trong hộ gia đình hay hộ tập thể thì người đai diện trong hộ hoặc người khách tạm trú đem giấy chứng minh, giấy chứng nhận căn cước của người tạm trú đến báo với đồn, trạm công an hoặc công an xóm, bản nơi gần nhất ngay trong ngày hôm đó. Trường hợp người khách đến tạm trú đã khuya (sau 23 giờ) mà không đi ngay trong đêm hôm đó thì có thể ngày hôm sau đến khai báo. Nếu khách tạm trú phải đi ngay trong đêm hoặc sáng hôm sau phải đi sớm, thì phải báo trước khi đi.
- Điều 9. – Những trường hợp sau đây khi đến tạm trú ban đêm không phải khai báo hoặc chỉ cần khai báo một lần đầu:
- Điều 10. – Các Sở, Ty công an cần nghiên cứu tổ chức, đặt các trạm và phân công cán bộ thường trực đăng ký tạm trú để thuận tiện cho người đến khai báo. Các hộ tập thể ở cách xa cơ quan công an huyện, hoặc đồn, trạm công an thì có thể khai báo tạm trú trực tiếp với công an xã địa phương nơi hộ tập thể ở.
- IV. ĐĂNG KÝ NHỮNG THAY ĐỔI KHÁC VỀ HỘ KHẨU
- Điều 11. – Chia hộ, hợp hộ
- Điều 12. – Khi có quyết định của Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố thuộc trung ương cho thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính ngày, tháng, năm sinh hoặc có những thay đổi khác về hộ tịch, hộ khẩu thì đương sự hoặc người trong hộ mang quyết định về thay đổi đó cùng với giấy chứng nhận đăng ký nhân khẩu thường trú (nếu ở thành phố, thị xã, thị trấn) đến Ủy ban hành chính xã, thị trấn, hoặc công an thị xã, khu phố, thành phố hoặc tỉnh nơi mình ở để đăng ký sự thay đổi.
- V. VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
- Điều 13. – Các địa phương phải niêm yết ngày, giờ tiếp dân giải quyết đăng ký hộ khẩu cho mọi người đều biết. Các đơn vị trực tiếp đăng ký hộ khẩu không được đóng cửa, không tiếp dân vào những ngày, giờ đã quy định.
- Điều 14. – Mọi thủ tục về đăng ký hộ khẩu đều phải được thi hành thống nhất theo thông tư này. Qua thực hiện nếu thấy điểm nào chưa hợp lý, các địa phương cần báo cáo đề xuất với Bộ Nội vụ để nghiên cứu bổ sung cho thích hợp, không được tự ý thay đổi hoặc đặt ra những quy định riêng để gây phiền hà cho nhân dân và sơ hở trong công tác quản lý.
- Điều 15. – Những thủ tục về đăng ký hộ khẩu quy định trong thông tư này cần được phổ biến rộng rãi, niêm yết ở các trụ sở tiếp dân về đăng ký hộ khẩu để mọi người đều hiểu rõ và thực hiện.
- Điều 16. – Những đơn vị và cá nhân có nhiều thành tích trong công tác đăng ký hộ khẩu sẽ được biểu dương khen thưởng.
- Điều 17. – Những thủ tục quy định về đăng ký hộ khẩu trước đây trái với thông tư này đều bãi bỏ.
Thông tư số 433-TT ngày 19/06/1976 Bổ sung và hướng dẫn về thủ tục đăng ký hộ khẩu (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 433-TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Cơ quan ban hành: Bộ Nội vụ
- Ngày ban hành: 19-06-1976
- Ngày có hiệu lực: 19-06-1976
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh