- THÔNG TƯ VỀ VIỆC XÉT DUYỆT, CÔNG NHẬN VÀ CÔNG BỐ HOÀN THÀNH KẾ HOẠCH NHÀ NƯỚC NĂM 1973
- 1. Nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước năm 1973 được đặt ra trong tình hình mới, có nhiều cơ sở kinh tế quan trọng bị địch đánh phá trong chiến tranh phải tập trung phục hồi, hoặc xây dựng lại, nhiều cơ sở kinh tế của trung ương và địa phương phải di chuyển từ nơi sơ tán, phân tán về địa điểm cũ, tổ chức lại sản xuất; còn lại một số đơn vị không bị đánh phá (thường thuộc loại vừa và nhỏ) vẫn tiếp tục sản xuất. Trong tình hình đó, việc xét duyệt và công nhận hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 1973 đối với các đơn vị kinh tế cơ sở, một mặt, phải căn cứ vào các chỉ tiêu đã ban hành để đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch được giao, mặt khác, phải kết hợp với nhiệm vụ khôi phục sản xuất (phần tự làm về phục hồi cơ sở sản xuất) của đơn vị kinh tế cơ sở mà Bộ, Tổng cục, Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố đã giao (nếu có) để đánh giá đúng đắn những cố gắng của đơn vị để từ đó có căn cứ xét việc khen thưởng thích đáng đối với những đơn vị vừa làm tốt nhiệm vụ sản xuất, vừa làm tốt nhiệm vụ khôi
- 2. Căn cứ để kiểm tra xét duyệt và công nhận hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 1973 đối với các đơn vị kinh tế cơ sở là kế hoạch chính thức năm 1973 mà các Bộ, Tổng cục. Uỷ ban hành chính các tỉnh và thành phố đã giao trong tháng 7 hoặc tháng 8 năm 1973. Những kế hoạch giao vào tháng 9 và trong quý IV năm 1973 không dùng làm căn cứ để xét duyệt và công nhận hoàn thành kế hoạch.
- 3. Việc xét duyệt hoàn thành kế hoạch Nhà nước phải dựa trên số liệu chính thức năm 1973, tính toán đúng phương pháp đã được Nhà nước quy định. Đơn vị được công nhận hoàn thành kế hoạch Nhà nước là đơn vị đã hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh (cả về hiện vật và tài chính) được giao và không để hư hỏng, mất mát, lãng phí tài sản của Nhà nước một cách nghiêm trọng. Đối với các đơn vị kinh tế cơ sở công nghiệp, nông trường quốc doanh, lâm trường, vận tải, thương nghiệp cung ứng vật tư kỹ thuật, ngoài việc xét duyệt và công nhận hoàn thành kế hoạch Nhà nước về các chỉ tiêu sản xuất đã được quy định, năm 1973, nếu có nhiệm vụ khôi phục cơ sở bằng lực lượng lao động của mình và được cấp trên giao chỉ tiêu, thì phải xét cả việc hoàn thành các chỉ tiêu đó.
- 4. Khi xét duyệt và công nhận hoàn thành kế hoạch không đặt vấn đề loại trừ các yếu tố khách quan. Trong trường hợp đơn vị kinh tế cơ sở vì bị thiệt hại nặng nề bão lũ mà không hoàn thành kế hoạch, nhưng có thành tích xuất sắc trong việc phấn đấu thực hiện kế hoạch, đã làm tốt công tác quản lý kinh tế và bảo vệ tài sản của Nhà nước trong bão lũ, nếu được Bộ, Tổng cục, Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố xác nhận thì được khen thưởng thích đáng như những đơn vị hoàn thành kế hoạch, nhưng không được công nhận và công bố là đơn vị hoàn thành kế hoạch Nhà nước.
- 5. Thủ trưởng các Bộ, Tổng cục, Chủ tịch Uỷ ban hành chính các tỉnh, thành phố có trách nhiệm xét duyệt, công nhận và công bố hoàn thành kế hoạch Nhà nước đối với các đơn vị kinh tế cơ sở thuộc phạm vi mình quản lý. Nhưng trước khi quyết định công nhận và công bố hoàn thành kế hoạch đối với các đơn vị kinh tế cơ sở phải có sự tham gia và nhất trí của cơ quan thống kê Nhà nước và cơ quan tài chính cùng cấp.
- 6. Việc khen thưởng đối với các đơn vị kinh tế cơ sở phải căn cứ vào đặc điểm của tình hình thực hiện kế hoạch Nhà nước năm 1973. Ban thi đua trung ương, Bộ Tài chính sẽ có thông tư riêng để hướng dẫn các ngành, các cấp thi hành.
Thông tư số 247-TTg ngày 22/11/1973 Về việc xét duyệt, công nhận và công bố hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 1973 do Thủ tướng Chính phủ ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 247-TTg
- Loại văn bản: Thông tư
- Cơ quan ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Ngày ban hành: 22-11-1973
- Ngày có hiệu lực: 07-12-1973
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Thông tư số 247-TTg ngày 22/11/1973 Về việc xét duyệt, công nhận và công bố hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 1973 do Thủ tướng Chính phủ ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh