- THÔNG TƯ BAN HÀNH QUY PHẠM TẠM THỜI VỀ KỸ THUẬT AN TOÀN KHI SỬ DỤNG MÁY THI CÔNG TRÊN CÔNG TRƯỜNG
- 1. Tổ chức cho cán bộ và công nhân học tập bản quy phạm:
- 2. Tổ chức kiểm tra về kỹ thuật an toàn:
- 3. Xây dựng các quy trình kỹ thuật:
- QUY PHẠM TẠM THỜI Về kỹ thuật an toàn khi sử dụng máy thi công trên công trường
- Chương I NGUYÊN TẮC CHUNG
- Điều 1. – Ban chỉ huy công trường hoặc đội trưởng đội máy thi công:
- I. YÊU CẦU CHUNG ĐỐI VỚI CÁC MÁY THI CÔNG
- Điều 2. – Mỗi máy đều phải có lý lịch, có bản hướng dẫn cách bảo quản, sử dụng máy và một sổ giao ca.
- Điều 3. – Muốn sửa chữa, chế tạo thay thế, thêm bớt những bộ phận chuyển động và chịu lực, phải có đồ án thiết kế theo đúng tiêu chuẩn chế tạo, tính toán của Nhà nước và phải theo đúng thủ tục xét duyệt.
- Điều 4. – Trước khi cho máy mới hoặc máy vừa đại tu xong ra làm việc phải tiến hành nghiệm thử theo đúng quy trình kỹ thuật sử dụng từng loại máy; phải tiến hành bàn giao giữa bộ phận sửa chữa và điều khiển. Kết quả nghiệm thử được ghi vào lý lịch của máy.
- Điều 5. – Những bộ phận chuyển động của máy có nguy cơ gây ra tai nạn lao động phải được bao che. Các thiết bị an toàn đã ghi trong lý lịch máy hoặc mới được bổ sung phải được lắp đủ trên máy và hoạt động tốt, nếu hư hỏng phải sửa chữa ngay.
- Điều 6. – Các máy làm việc ngoài trời và các lán đặt máy phải có cột chống sét theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn về điện.
- Điều 7. – Đối với các máy có sử dụng điện:
- Điều 8. – Khoảng cách từ đường dây điện đến các công trình xây dựng, đến đường sắt, đường ô-tô phải theo điều 653, bảng 32-5, bảng 32-6 trong pháp quy quản lý kỹ thuật các nhà máy điện và lưới điện của Bộ Thủy lợi điện lực.
- Điều 9. – Các máy, khi di chuyển hoặc làm việc ở gần các đường dây điện phải được cán bộ phụ trách thi công hoặc cán bộ quản lý máy đồng ý và đảm bảo cự ly sau:
- Điều 10. – Các máy lớn, các lán đặt máy phải có bình chữa cháy và những dụng cụ phòng cháy phù hợp với từng loại máy.
- Điều 11. – Nơi làm việc của máy phải có tính toán để phù hợp với sức chịu của đất và sàn, sàn đặt máy phải lát ván khít. Khi đặt máy làm việc trên giàn dáo, trên bờ hào, hố sâu, trên bè mảng… thì việc tính toán phải theo đúng thủ tục xét duyệt.
- Điều 12. – Trong khu vực máy làm việc phải quy định khoảng cách ngăn cấm người không có trách nhiệm qua lại, khoảng ngăn cấm này phải có rào chắn hoặc biển báo. - Nếu máy làm việc ngay trên lối đi lại thì phải mở đường đi lối khác, ban đêm có đèn đỏ báo hiệu.
- Điều 13. – Khu vực các máy làm việc phải có đầy đủ ánh sáng để công nhân làm việc được an toàn.
- Điều 14. – Khi bố trí hai máy làm việc gần nhau phải quy định khoảng cách tối thiểu giữa hai máy để đảm bảo an toàn. Không được bố trí máy làm tầng trên, máy làm tầng dưới liền nhau cùng trên một được thẳng đứng.
- Điều 15. – Trước khi di chuyển các máy lớn thì cán bộ kỹ thuật, cán bộ an toàn lao động và công nhân điều khiển máy phải đề ra biện pháp an toàn để thực hiện và cần chú ý những điểm sau:
- II. YÊU CẦU CHUNG ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN ĐIỀU KHIỂN MÁY
- Điều 16. – Công nhân điều khiển máy phải:
- Điều 17. – Công nhân điều khiển máy và những người làm việc liên quan đến máy thì quần áo, mũ phải gọn gàng, không được đi guốc hoặc những loại dép không có quai sau để giữ chặt vào chân. Phụ nữ phải bao gọn tóc. Khi làm việc phải mang đủ dụng cụ an toàn cần thiết cho công việc đã được cấp phát.
- Điều 18. – Công nhân điều khiển máy:
- Điều 19. – Đèn điện cầm tay phải dùng loại điện thế từ 36 vôn trở xuống; khi làm việc, sửa chữa mà phải chui vào các bộ phận bằng kim loại của máy lớn, phải dùng đèn có điện thế từ 12 vôn trở xuống. Cấm dùng đèn có ngọn lửa để soi sáng các bộ phận máy và bình khí.
- Điều 20. – Thợ phụ và người học việc phải làm việc dưới sự hướng dẫn của thợ chính, nếu làm việc gì có liên quan đến máy phải được sự đồng ý của thợ chính.
- Chương II VẬN CHUYỂN TRÊN CÔNG TRƯỜNG
- Điều 21. – Công nhân lái các phương tiện vận tải như ô-tô, máy kéo, tàu hỏa… chạy trong phạm vi công trường phải thực hiện những điều về luật đi đường bộ hiện hành của Bộ Giao thông và Bộ Công an.
- I. VẬN CHUYỂN BẰNG Ô-TÔ, MÁY KÉO
- Điều 22. – Trong công trường phải có tuyến đường quy định cho xe chạy.
- Điều 23. – Nếu đặt đường ở giữa khe núi, bờ sông và dốc núi thì phải tìm hiểu tình hình địa hình, địa chất, thủy văn, mức nước lũ cao nhất… để đề phòng đường bị phá hoại. Công trường phải định kỳ kiểm tra chất lượng của cầu cống và những đoạn đường xét thấy dễ bị hư hỏng để có kế hoạch tu sửa.
- Điều 24. – a) Đường ô-tô qua cầu cống, chỗ ngoặt, tới đường tầu hỏa, tới đường dốc, chỗ đông người qua lại… phải có biển báo theo quy định của Bộ Giao thông.
- Điều 25. – Người có bằng lái xe loại nào chỉ được lái xe loại ấy. Trường hợp người lái xe bị ngành công an thu bằng mà chưa được phục hồi và cấp lại bằng thì công trường không được tự động cho người đó lên lái xe dù chỉ là chốc lát. Khi sức khỏe người lái xe không được bình thường (mệt mỏi, đau mắt, thần kinh kém…) thì không được lái xe.
- Điều 26. – Tùy công trường lớn, nhỏ mà quy định tốc độ tối đa của xe; nhưng khi xe tới chỗ ngoặt, đường giao nhau, qua cầu cống, chỗ đông người phải giảm bớt tốc độc. Khi đang chạy, xe nọ phải cách xe kia tối thiểu là 20m.
- Điều 27. – Khi xếp dỡ hàng hoặc sửa chữa, xe phải đỗ trên nền đất bằng và tốt; nếu gặp đường dốc thì phải dùng gỗ chèn bánh đảm bảo cho xe không thể trượt được. Cấm xếp dỡ hàng ở chỗ đất có thể bị lún, sập.
- Điều 28. – Khi xếp dỡ hàng nếu sàn xe cao cần phải bắc ván thì:
- Điều 29. – Những xe có thể tháo thành được cả ba mặt, trước khi dỡ hàng hóa ở trên xuống, phải kiểm tra xem hàng hóa có thể bị lăn, đổ được không, khì tháo thành phải tháo lần lượng từng mặt một.
- Điều 30. – Khi xe vận chuyển những vật liệu rời rạc như gạch, ngói, sỏi, đá… phải xếp thấp hơn thành xe 20cm. Khi cần thiết có thể nối cao thêm thành xe, nhưng chỗ nối phải chắc chắn với điều kiện không chở quá trọng tải của xe và được cán bộ phụ trách xét duyệt.
- Điều 31. – Khi chở các hàng hóa cồng kềnh như: xà, vì kèo, cột, pa-nen, tấm mái, máy móc… thì phải kê, chằng, buộc chắc chắn để khi xe chạy khỏi xê dịch. Dụng cụ để kê và dây chằng phải chịu được lực rung chuyển của hàng hóa.
- Điều 32. – Khi chở những hàng hóa có chiều dài quá một lần rưỡi chiều dài của sàn xe thì phải kéo thêm rơ-moóc. Xe kéo thêm rơ-moóc thì:
- Điều 33. – Khi xếp dỡ hàng hóa bằng cần trục, trong lúc cần trục đang làm việc, người lái xe phải ra khỏi buồng lái.
- Điều 34. – Xe chở những loại hàng hóa đặc biệt như hóa chất dễ cháy, dễ nổ, bình khí có áp lực, thuốc nổ, phải tuân theo quy phạm an toàn về vận chuyển các loại hàng đó. Những công nhân chuyên chở những loại hàng đặc biệt nói trên phải được học tập quy phạm an toàn về bốc dỡ các loại hàng đó.Cấm người ngồi trên thùng xe có xếp những loại hàng nói trên.
- Điều 35. – Không được xếp những loại hàng nói ở điều 34 trên xe ben hoặc trên xe có kéo rơ-moóc.
- Điều 36. – Xe chở người phải có bậc lên xuống, thành xe chắc chắn. Xe chở hàng mà cần có người đi theo bốc dỡ thì phải dành riêng chỗ ngồi đảm bảo an toàn cho công nhân. Chỗ ngồi phải thấp hơn thành xe tối thiểu 50cm.
- Điều 37. – Khi xe chạy, người không được bám ngoài thành ca-bin, ngoài thành xe hoặc ngồi trên thành xe. Cấm nhẩy lên xe hoặc từ trên xe nhảy xuống đất khi xe đang chạy.
- II. VẬN CHUYỂN BẰNG XE HỎA, XE ĐIỆN
- Điều 38. – Đường sắt trong công trường phải thiết kế theo tiêu chuẩn làm đường của Tổng cục đường sắt.
- III. VẬN CHUYỂN BẰNG XE GOÒNG
- Điều 39. – Đặt đường goòng phải có đồ án thiết kế và theo các yêu cầu sau:
- Điều 40. – Công trường phải định kỳ kiểm tra đường goòng để kịp thời sửa chửa những chỗ đường hỏng. Công nhân đẩy goòng nếu phát hiện thấy quảng đường hư hỏng phải báo cho người phụ trách đường goòng biết.
- Điều 41. – Xe goòng phải có phanh chân và chốt hãm thùng goòng tốt. Khi chạy, hai goòng phải cách nhau tối thiểu 10m, ở đường dốc cách nhau 20m. Những đoạn đường quá độ dốc quy định, xe goòng phải lên xuống từng chiếc một. Tới chỗ tránh chỉ đường cho goòng chạy một chiều, còn một bên goòng phải dừng lại.
- Điều 42. – Công nhân đẩy goòng phải trên 18 tuổi, không mắc các bệnh kinh niên dễ có biến chứng đột ngột, hoặc tai điếc, mắt kém.
- Điều 43. – Tốc độ đẩy goòng không được quá 6km/giờ, tới chỗ tránh, chỗ bàn xoay phải giảm tốc độ.
- Điều 44. – Trước khi xếp hàng hóa lên goòng phải hãm phanh, chèn bánh. Những goòng có thùng phải có chốt hãm để tránh lật đổ khi xếp dỡ. Hàng hóa trên goòng phải xếp thứ tự, gọn gàng, chằng giữ chắc chắn. Khi chở các loại hàng rời rạc như gạch, ngói, đá… thì xung quanh phải có thành che chắn.
- Điều 45. – Khi dùng những máy có cần (cần trục, máy xúc…) để xếp dỡ hàng hóa thì người đẩy goòng phải ra khỏi vòng quay của cần trong lúc hàng đang di chuyển trên không.
- IV. VẬN CHUYỂN BẰNG BĂNG CHUYỀN, MÁNG CÀO
- Điều 46. – Tùy theo loại vật liệu và chiều cao vận chuyển để đặt băng chuyền, máng cào với độ dốc thích hợp. Nhưng độ dốc đó không được vượt quá trị số cho phép trong bản thuyết minh của máy.
- Điều 47. – Trước khi làm việc phải chèn kỹ bánh xe, phải đóng cọc hoặc dùng dây ghìm chặt đầu dưới và đầu trên của băng. Đầu trên của băng phải gối lên khu nhận vật liệu dài tối thiểu 0m50; nếu không gối được như vậy thì phải có cột chống và néo giữ sát với nơi nhận vật liệu cho chắc chắn.
- Điều 48. – Khi máy làm việc, cấm người đi lại dưới máng băng nếu không có dàn đỡ phía dưới máng băng để chắn vật liệu trên băng có thể rơi xuống. Cấm bước qua băng, cấm dùng băng để đưa người lên xuống.
- Điều 49. – Hai máng băng làm việc gần nhau thì phải cách nhau tối thiểu 5m theo chiều ngang. Nếu nối hai băng với nhau để vận chuyển lên cao hoặc đi xa thì chỗ nối phải có cột chống và buộc các băng với nhau cho chắc chắn; chỗ nối phải khít để vật liệu không rơi xuống đất khi băng làm việc.
- PHỤ BẢN 1
- Điều 50. – Khi di chuyển phải hạ khung xuống; di chuyền lên cao, xuống thấp phải được cán bộ phụ trách thi công đồng ý.
- Chương III CÁC MÁY CẦN TRỤC
- I. YÊU CẦU CHUNG
- Điều 51. – Bố trí địa điểm làm việc của máy, của người phục vụ máy, của cấu kiện để trục… phải tính toán sức chịu của sàn, nền đất; tính toán khoảng cách đến các công trình đã và đang xây dựng đế quá trình làm việc được an toàn. Nếu bố trí máy làm việc trên bờ hồ thì phải theo điều 123 trong quy phạm này.
- Điều 52. – Trước khi làm việc, mọi người phải kiểm tra nơi làm việc của mình, nếu thấy không đảm bảo an toàn phải bảo cho cán bộ phụ trách an toàn biết. Các máy có bánh xe di động phải chèn bánh hoặc đóng cọc giữ cho chắc chắn.
- Điều 53. – Khi các cần trục làm việc gần nhau thì máy nọ phải đặt cách máy kia với bán kính tối thiểu bằng chiều dài lúc vươn cần xa nhất của cả hai máy, cộng với chiều dài cấu kiện trục và thêm một khoảng cách an toàn là 1m00 để tránh va chạm vào nhau khi đang trục.
- Điều 54. – Các máy cần trục khi làm việc phải:
- Điều 55. – Đối tượng giữ thăng bằng của cần trục phải để trong thùng, hoặc hộp đã bố trí sẵn và đảm bảo không bị rơi. Cấm dùng các vật liệu rời rạc (cát, đất…) để thay đổi độ ẩm (do đó có thể thay đổi trọng lượng) để làm đối trọng. Đặt đối trọng phải phù hợp với cự ly thay đổi của cần, với trọng lượng của cấu kiện đem trục, với lúc máy nghỉ hoặc di chuyển mà đã chỉ dẫn trong bản thuyết minh của máy.
- Điều 56. – Các máy cần trục đang làm việc phải định kỳ khám nghiệm ,nghiệm thử theo quy phạm kỹ thuật. Đối với những cần trục mới đem ra dùng, cần trục mới di chuyển từ công trường này đến công trường khác hoặc sau khi mới đại tu, sửa chữa thay thế những bộ phận chuyển động và chịu lực, thay đổi chiều dài của cần, trước khi dùng phải khám nghiệm, nghiệm thử.
- Điều 57. – Việc khám nghiệm, nghiệm thử phải có sự chứng kiến của cán bộ kỹ thuật phụ trách máy móc của công trường hoặc của đội máy. Kết quả nghiệm thử phải ghi chép vào biên bản để lưu kèm theo lý lịch của máy.
- Điều 58. – Không cho máy cần trục làm việc khi:
- Điều 59. – Khi máy nghỉ việc hoặc đang được sửa chữa những bộ phận không quan trọng thì:
- A. BUỘC CẤU KIỆN ĐỂ TRỤC LÊN
- Điều 60. – Các thiết bị như bàn nâng, dây buộc… phải có bảng ghi rõ sức chịu tối đa. Những người phụ trách việc buộc cấu kiện vào móc nâng phải biết rõ trọng lượng cấu kiện đem trục, nếu còn nghi ngờ phải hỏi cán bộ phụ trách thi công.
- Điều 61. – Khi buộc đề trục các cấu kiện lớn hoặc đặc biệt như: Xà, kèo, cột bằng bê-tông, các cấu kiện bằng kim loại, các thiết bị máy móc, các cây gỗ tròn và dài, cán bộ phụ trách thi công phải hướng dẫn cách buộc và vị trí buộc. Những cấu kiện chỉ buộc có một dây thì phải buộc vào khoảng 2/3 phía trên trọng tâm của vật đó.
- Điều 62. – Công nhân buộc, xếp dỡ cấu kiện phải sử dụng thành thạo các móc nút chuyên môn đã được chỉ dẫn. Trước khi buộc để trục phải kiểm tra chỗ buộc trên cấu kiện, nếu chưa chắc chắn, phải tăng cường sức chịu ở chỗ buộc để khi trục lên khỏi rơi xuống.
- Điều 63. – Khi buộc để trục những cấu kiện đặt chồng lên nhau hoặc những cấu kiện nằm nghiêng đều phải kiểm tra xem nó có bị giữ chặt không, kiểm tra những cấu kiện và công trình bên cạnh để tránh sập đổ vào người.
- Điều 64. – Không buộc cáp và xích cọ sát với nhau, không buộc các dây chịu lực khác nhau cùng trên một cấu kiện. Ở chỗ buộc nếu có cạnh sắc, nhọn thì phải dùng bao tải hoặc đệm gỗ lót đệm vào cạnh sắc để dây cáp không bị đứt khi trục; nếu ở nút buộc có dầu mỡ bám vào thì phải lau sạch trước khi trục.
- Điều 65. – Những nguyên vật liệu như:
- Điều 66. – Khi trục những nguyên vật liệu rời rạc bằng các loại thùng có nắp ở đáy để tháo mở vật liệu ra nhờ dây hoặc các phương tiện điều khiển khác thì trước mỗi buổi làm việc phải kiểm tra các bộ phận ấy để đáy thùng không tự do bật ra.
- B. KHI TRỤC LÊN
- Điều 67. – Chỉ được trục lên khi:
- Điều 68. – Trong lúc trục lên, hiệu lệnh phải rõ ràng và thống nhất giữa công nhân điều khiển máy và công nhận xếp dỡ cấu kiện, tránh nhầm lẫn với những hoạt động khác. Nếu giữa thợ máy và công nhân xếp dỡ cấu kiện không nhìn thấy nhau, hoặc không nghe rõ hiệu lệnh bằng tiếng động thì phải dùng hiệu lệnh bằng cờ, đèn đỏ hoặc có người điều khiển riêng.
- Điều 69. – Trước khi trục những cấu kiện có trọng lượng từ 80% đến 100% tải trọng cho phép của cần trục, hoặc khi sử dụng hai cần trục cùng trục một cấu kiện thi phải trục thử cấu kiện cách mặt đất 50cm, và giữ nguyên trong ba phút rồi hạ cấu kiện xuống để kiểm tra các bộ phận chuyển động và chịu lực, nếu cần trục không có hiện tượng hư hỏng thì mới được tiếp tục làm việc.
- Điều 70. – Tốc độ trong lúc trục phải từ từ hoặc từ chậm đến nhanh, không được cho dây cáp chuyển động nhanh chậm đột ngột. Tốc độ di chuyển trên mặt đường của máy cần trục và tốc độ di chuyển của dây cáp không được vượt quá tốc độ quy định đã ghi trong bản thuyết minh của máy.
- Điều 71. – Thợ máy và công nhân xếp dỡ cấu kiện của cần trục phải luôn luôn theo dõi vật đang trục để đối phó kịp thời với những trường hợp nguy hiểm, nếu có hiện tượng bị hư hỏng dây buộc, dây cáp, cấu kiện bị gẫy phải bóp còi loan báo cho mọi người biết rồi từ từ hạ cấu kiện xuống.
- Điều 72. – Chỉ được ra lấy cấu kiện khi cần trục đã hạ nó xuống chỉ còn cách chỗ đặt nhiều nhất 1m (theo chiều cao). Khi cấu kiện đã đặt vào vị trí chắc chắn mới được tháo dây buộc. Trong lúc cấu kiện đặt chưa vững thì dây cáp phải luôn căng thẳng.
- Điều 73. – Cấm:
- Điều 74. – Khi dùng hai cần trục để trục một cấu kiện phải được cán bộ kỹ thuật hiểu về máy đó đồng ý và chị đạo và có đủ những điều kiện sau:
- C. CÁC THIẾT BỊ ĐỂ TRỤC LÊN
- Điều 75. – Tất cả các thiết bị để trục lên như cáp, xích, móc, bao bì… đều phải có biển ghi rõ tải trọng cho phép của nhà máy chế tạo ra hoặc đã được thí nghiệm để quyết định tải trọng làm việc tối đa.
- Điều 76. – Sức chịu kéo cho phép lớn nhất của các loại dây cáp, xích chịu lực phải tính theo công thứ sau đây:
- 1. Dây cáp bằng thép.
- Điều 77. – Dây cáp thép phải đảm bảo độ dài để khi máy trục làm việc ở độ cao bay xa nhất vẫn còn lại ít nhất năm vòng trên tăm-bua. Phải bảo vệ cho dây cáp không bị gỉ, bị mòn do cọ sát với những bộ phận cố định.
- Điều 78. – Góc độ của dây cáp dùng để treo cấu kiện quy định như sau;
- Điều 79. – Khi bện đầu dây cáp hoặc dùng cặp ép để làm thành vòng (thành khuyết) thì phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và được cán bộ kỹ thuật phụ trách đồng ý; làm việc này phải là công nhân kỹ thuật đã được hướng dẫn cách bện, cách dùng cặp ép.
- Điều 80. – Các cặp dùng để cặp (ép) các đầu của dây cáp phải chắc chắn để khi làm việc không bị hỏng và trượt cáp. Số lượng cặp dây cáp phải được xác định do tính toán, nhưng không được dưới 3 và phù hợp với bảng sau:
- Điều 81. – Đầu dây cáp bắt vào tăm-bua bằng chốt hoặc bằng cách đổ hợp kim nóng chảy, chứ không được dùng những nút hình côn bằng gang.
- Điều 82. – Việc loại bỏ dây cáp thép chịu lực thì căn cứ vào số sợi thép bị đứt trên một bước bện (phụ bản 2).
- Điều 83. – Hệ số dự trữ sức bền K của dây cáp thép quy định:
- 2. Dây chão gai:
- Điều 84. – Chão gai và các loại dây sợi khác chỉ được dùng để buộc, để kéo cấu kiện ở trên mặt phẳng ngang bằng những bộ phận chuyển động bằng tay. Cấm dùng chão gai ở trong các máy quay tự động, và để buộc những cấu kiện ướt.
- Điều 85. – Hệ số K của dây chão gai là K
- 3. Xích sắt:
- Điều 86. – Hệ số K của xích không được nhỏ hơn trị số ghi trong bảng sau đây:
- Điều 87. – Khi bắt xích vào tăm-bua phải dùng những mắt xích đặc biệt ở cuối do nhà máy chế tạo làm ra.
- Điều 88. – Xích sắt phải có độ dài đảm bảo khi máy làm việc ở độ cao hay xa nhất cũng vẫn còn lại ít nhất ba vòng trên tăm-bua.
- 4. Móc nâng:
- Điều 89. – Các móc nâng dùng để làm việc ở những nơi dễ vướng như: xà, vì kèo, tre, gỗ… phải có bộ phận che đầu mỏ của móc.
- 5. Mối nối:
- Điều 90. – Trước khi sử dụng dây cáp thép, dây chão gai, xích sắt đã nối, phải đem nghiệm thử để quyết định tải trọng cho phù hợp.
- 6. Tăm-bua, ròng rọc và hệ thống ròng rọc:
- Điều 91. – Đường kính của ròng rọc, tăm-bua dùng cho dây cáp thép tối thiểu phải bằng 16 lần đường kính dây cáp khi dùng trong các máy quay tay, bằng 20 lần khi dùng trong các máy quay tự động.
- Điều 92. – Đường kính của ròng rọc, tăm-bua dùng cho dây xích tối thiểu phải bằng 20 lần đường kính thép tròn làm khuyên khi dùng trong các máy quay tay, bằng 30 lần khi dùng trong các máy quay tự động.
- Điều 93. – Tăm bua phải có gờ. Các gờ của tăm-bua phải cao lên khỏi lớp cáp quấn trên cùng ít nhất bằng một lần đường kính của dây cáp, hoặc một lần chiều rộng của mắt xích.
- Điều 94. – Ròng rọc phải có bộ phận chắn không cho dây cáp trật ra ngoài khi chuyển động, nhưng bộ phận ấy phải tốt không được vỡ. Không dùng những ròng rọc mà đường kính đã mòn mất 30%.
- Điều 95. – Khi quấn nhiều lớp xích hoặc cáp trên tăm-bua nhẵn, phải quấn từng lớp một, các vòng trong từng lớp phải khít với nhau.
- Điều 96. – Những ròng rọc buộc hoặc hàn trực tiếp vào cần trục phải chắc chắn và có dây cáp bảo hiểm. Dây cáp, dây xích chạy giữa các ròng rọc của hệ thống ròng rọc không được xoắn.
- II. CẦN TRỤC DI ĐỘNG
- A. YÊU CẦU CHUNG
- Điều 97. – Chỗ đứng và đường đi lại để làm việc của cần trục phải phẳng đều, có sức chịu đồng nhất. Độ dốc và sức chịu của nền đường phải phù hợp với trị số đã ghi trong bản thuyết minh của máy.
- Điều 98. – Khi cần trục di chuyển phải bóp còi báo cho mọi người làm việc xung quanh và nơi máy sẽ di chuyển tới biết.
- Điều 99. – Trong lúc cần trục làm việc, ngoài người lái máy ra không ai được đứng, ngồi trên cần trục. Cấm chuyển từ bộ phận này sang bộ phận khác, nhẩy lên hoặc từ trên máy nhẩy xuống.
- Điều 100. – Chỉ được phép cho cần trục vừa đi vừa mang cấu kiện khi:
- B. CẦN TRỤC DI ĐỘNG LOẠI BÁNH XÍCH, BÁNH CAO SU
- Điều 101. – Công nhân lái xe cần trục trong công trường phải tuân theo điều 25 trong quy phạm này và phải tuân theo luật lệ đi đường của Bộ Giao thông, Bộ Công an.
- Điều 102. – Trọng lượng của cấu kiện đem trục phải phù hợp với góc độ và chiều cao của cần đã ghi trong bản thuyết minh của máy. Cấm dùng cần trục để nhổ cọc.
- Điều 103. – Khi có gió như đã nói ở điều 58 phải cho máy tới nơi an toàn nhất, hạ cần xuống trùng với hướng gió và hãm phanh, chèn bánh cho kỹ.
- C. CẦN TRỤC THÁP
- Điều 104. – Kỹ thuật làm nền và đường sắt theo quy định và tiêu chuẩn của Tổng cục đường sắt. Việc bắc đường ray dù bằng cách nào cũng phải đảm bảo không bị biến dạng ngang hoặc dọc, không xê dịch qua hai bên hoặc theo chiều dọc khi cần trục khi chuyển và làm việc.
- Điều 105. – Trong thiết kế đường cần trục phải có chỉ dẫn về:
- Điều 106. – Công trường phải định kỳ kiểm tra đường cần trục để sửa chữa khi có hư hỏng. Trước khi làm việc, công nhân lái máy cần trục phải kiểm tra những đoạn đường mà cần trục sẽ làm việc.
- Điều 107. – Dây điện phục vụ cho cần trục tháp phải có trục để cuộn tự động, nếu không thì phải có biện pháp bảo vệ để lớp cách điện không bị phá hoại.
- Điều 108. – Khi có gió to như đã nói ở điều 58 thì phải đem máy tới nơi an toàn, hạ cần xuống, kẹp chặt các thanh kẹp ở bánh xe với đường ray, dùng dây chằng cần trục với số lượng ít nhất là 6 dây.
- Điều 109. – Khi tháo lắp cần trục:
- III. CẦN TRỤC CỐ ĐỊNH
- A. CẦN TRỤC THIẾU NHI
- Điều 110. – Sau khi lắp cần xong mới được lắp đối trọng. Khi đã cố định cần trục tại một địa điểm thì phải tính toán để chằng buộc máy với sàn cho chắc chắn.
- Điều 111. – Tất cả cửa đi, cửa số, đường đi lại nằm trong bán kính quay hoặc chiều cao di chuyển hàng hóa đều phải rào lại. Khi đặt máy làm việc ở trên sàn giáo cao quá 3m thì chung quanh sàn phải có lan can cao 80cm thật vững chắc.
- Điều 112. – Khi di chuyển cần trục phải tháo cần và lấy đối trọng ra, kế hoạch di chuyển máy từ trên cao xuống thấp hoặc từ thấp lên cao phải được cán bộ phụ trách thi công đồng ý; phải vạch biện pháp an toàn và phổ biến kỹ cho công nhân phụ trách việc di chuyển.
- B. MÁY NÂNG (élévateur)
- Điều 113. – Sàn để công nhân ra lấy nguyên vật liệu ở trên cao phải sát với mép bàn nâng, phải chắc chắn và tính toán phù hợp với sức nặng của người và vật liệu. Lúc dừng lại để chuyển vật liệu ở trên cao thì bàn nâng phải ngang với sàn.
- Điều 114. – Khi vận chuyển những loại vật liệu rời rạc hoặc vật liệu đựng trong các thùng nhỏ, dành tre… lên cao thì chung quanh bàn nâng phải có thành gỗ che chắn cao ít nhất là 20cm.
- Điều 115. – Máy nâng phải có phanh tự động tốt.
- Điều 116. – Trong quá trình tháo lắp và khi cần trục làm việc phải có dây chằng dựa trên cơ sở tính toán. Khi có gió như đã nói ở điều 58 phải kiểm tra, củng cố hoặc tăng cường thêm dây chằng.
- C. TRỤC TỜI, CẦN TRỤC KIỂU CỘT BUỒM VÀ NHỮNG CẦN TRỤC KIỂU CÁNH
- Điều 117. – Giá của tời và cột cầu trục phải đặt trên nền đất khô ráo, xung quanh chân cột phải đổ bê-tông, không được lèn chôn chân cột bằng những vật liệu rời rạc như: cát, sỏi, gạch…
- Điều 118. – Giá của tời, cột cần phải tính toán để quyết định tải trọng cho phép. Hệ số an toàn của cột là 3, còn ở các mối nối, mối hàn, chân cột tối thiểu là 6.
- Điều 119. – Nếu từ chỗ đặt máy đến cột tời, cột cần trục có những đoạn dây cáp chuyển động độ ra thì hai bên phải rào lại và bảo vệ để tránh mọi va chạm với dây cáp.
- Chương IV CÁC MÁY LÀM ĐẤT
- I. YÊU CẦU CHUNG
- Điều 120. – Trước khi cho các máy làm đất làm việc phải có đồ án chỉ rõ vị trí làm việc của từng máy, hướng công tác và phương pháp thi công, biện pháp an toàn… cho từng máy đối với từng loại đất.
- Điều 121. – Khi lập đồ án cho máy làm việc phải:
- Điều 122. – Khi đang làm việc nếu thấy có dây điện ngầm, hầm hố, mồ mả hoặc các hiện tượng khả nghi khác thì không được cho máy làm việc tại đó mà phải kịp thời báo cho cán bộ phụ trách biết.
- Điều 123. – Máy làm đất khi nghỉ việc, khi làm việc hoặc di chuyển ở cạnh mép hố thì phải cách mép hố tối thiểu một khoảng L (theo công thức tính toán dưới đây). Trường hợp đặc biệt máy phải đứng làm việc mà không đảm bảo được khoảng cách quy định này thì phải chống đỡ dựa vào cơ sở tính toán.
- Điều 124. – Tất cả các thiết bị để treo gầu, chịu lực như: cáp, móc, xích, ròng rọc, tăm-bua… phải theo những điều nói ở phần C chương III quy phạm này.
- Điều 125. – Khi làm việc ban đêm thì máy phải có đèn trước, đèn sau; khu vực máy hoạt động phải có dèn chiếu sáng, nếu ánh sáng thiếu không được làm việc.
- Điều 126. – Cho máy di chuyển hoặc làm việc ở trên đường dốc phải tuân theo độ dốc đã ghi trong bản thuyết minh của máy. Muốn cho máy di chuyển ở độ dốc lớn hơn độ dốc cho phép thì phải dùng máy kéo hoặc tời có sức kéo phù hợp để đưa lên, phải được sự đồng ý và dưới sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật phụ trách máy.
- Điều 127. – Trước khi cho máy di chuyển hoặc làm việc ở trên đường dốc thì phải kiểm tra kỹ phạm vi máy sẽ làm việc hoặc di chuyển đến và cần chú ý:
- II. CÁC MÁY XÚC VÀ ĐÀO ĐẤT
- Điều 128. – Việc khám nghiệm, nghiệm thử các loại máy đào đất có cần, phải theo đúng điều 56 trong quy phạm này.
- Điều 129. – Trường hợp đặc biệt phải đặt máy làm việc ở nơi đất mới đắp, đất có sức chịu kém thì phải tính toán để tăng cường gỗ lót hoặc dây chằng cho máy làm việc được an toàn, nếu dùng gõ lót thì chiều rộng lót gỗ phải lớn hơn chiều rộng của máy mỗi bên 50cm.
- Điều 130. – Trong lúc làm việc:
- Điều 131. – Nếu có nổ mìn cho tơi đất đá để máy xúc dễ làm việc thì:
- Điều 132. – Khi bố trí các máy làm việc gần nhau thì máy nọ phải cách máy kia ít nhất bằng bán kính quay tối đa của cần máy này cộng với bán kính quay tối đa của cần máy kia, cộng thêm một khoảng cách an toàn là 2m để tránh va chạm vào nhau. Hiệu lệnh của từng máy phải riêng biệt tránh nhầm lẫn. Các xe chuyên chở đất đá phải bố trí đi theo một chiều, phải có người chỉ huy thống nhất.
- Điều 133. – Không được bố trí máy làm tầng trên, máy làm tầng dưới theo phương thẳng đứng.
- Điều 134. – Khi đổ đất đá lên các xe vận chuyển không được đưa gầu xúc qua buồn lại, không được để gầu xúc cao cách đáy thùng xe quá 1m, không được làm va chạm vào thành xe.
- Điều 135. – Góc độ làm việc của cần xúc phải tuân theo góc độ đã quy định trong bản thuyết minh của máy.
- Điều 136. – Khi máy không làm việc dù trong một thời gian ngắn cũng phải hạ gầu xuống.
- Điều 137. – Khi sửa chữa, nạo rửa gầu xúc, gầu ngoạm phải hạ gầu xuống sát đất, cấm treo lơ lửng.
- Điều 138. – Khi di chuyển máy phải nâng gầu xúc cách mặt đất tối thiểu 50cm và quay cần trùng với hướng đi.
- III. MÁY ỦI ĐẤT
- Điều 139. – Trong khu vực máy làm việc cấm không cho người đứng gần mép bờ, mép hố. Cấm cho lưỡi gạt chờm ra khỏi mép bờ, mép hố; khi máy ủi đất ra đến gần mép bờ, mép hố thì phải giảm bớt tốc độ. Nếu dùng máy ủi đất để san đất từ tầng trên xuống tầng dưới cho máy xúc làm việc thì máy ủi phải cách mép đất đang đào một khoảng cách tối thiểu là 3m.
- Điều 140. – Khi san đất, đá… xuống sườn dốc thì phía dưới phải có biển báo cấm người, xe cộ đi lại hoặc làm việc trong phạm vi đất đá có thể lăn tới.
- Điều 141. – Khi dùng máy để húc đổ cây thì phải quan sát hướng đổ của cây và các cành có liên quan để tránh cây sập đổ vào máy. Cấm húc đổ cây ở trên đồi dốc.
- Điều 142. – Nơi máy làm việc nếu có nổ mìn phải tuân theo hiệu lệnh của người bắn mìn.
- Điều 143. – Không cho các máy nói ở phần này làm việc khi trời mưa to hoặc chỗ đất lầy lội đề phòng đất lún, máy bị sa lầy.
- Điều 144. – Khi di chuyển máy phải nâng lưỡi gạt, cách mặt đất 50cm. Đến chỗ đường vòng, máy phải tuân theo bán kính quay đã quy định trong bản thuyết minh của máy để khỏi bị lật đổ.
- Điều 145. – Khi nghỉ việc, sửa chữa hoặc điều chỉnh phải hạ lưỡi gạt xuống sát mặt đất, hoặc dùng gỗ tốt để kê, cấm treo lơ lửng.
- Chương V CÁC MÁY THI CÔNG XÂY DỰNG
- I. YÊU CẦU CHUNG
- Điều 146. – Khi bố trí máy làm việc ở trên cao, thì giàn dáo cũng như sàn đặt máy phải có tính toán chịu được trọng lượng và cả lực rung chuyển của máy; sàn cầu thang và chỗ công nhân đi lại làm việc phải chắc chắn, có lan can cao ít nhất 80cm. Nếu bố trí máy làm việc trên cao thì ở phía dưới (sàn hay mặt đất) phải có biển báo cấm người qua lại.
- Điều 147. – Tất cả những máy có bánh xe khi đã đặt cố định để làm việc thì phải chèn bánh hoặc đóng cọc giữ để không cho máy di chuyển tự do.
- II. MÁY TRỘN BÊ-TÔNG, TRỘN VỮA
- Điều 148. – Dây cáp thép dùng để kéo ben vật liệu phải theo những điều quy định ở phần C chương III quy phạm này.
- Điều 149. – Mặt đất hay sàn để công nhân đứng đổ vật liệu vào ben phải bằng phẳng, vững chắc. Xung quanh máy trộn phải có rãnh thoát nước, phải trải bằng những vật liệu không trơn trượt, phải rộng rãi để công nhân đi lại làm việc được dễ dàng.
- Điều 150. – Tất cả dụng cụ làm việc phải để cách miệng ben, miệng thùng trộn ít nhất là 20cm. Ở những máy có ben thì hai bên cạnh ben phải rào lại để ngăn không cho người qua lại.
- Điều 151. – Cấm;
- Điều 152. – Tốc độ lên xuống ben phải từ từ, tránh giật mạnh. Chỉ khi nào có hiệu lệnh của công nhân đổ vật liệu vào ben báo cho biết thì thợ máy mới được cho ben lên.
- Điều 153. – Khi di chuyển máy:
- III. MÁY DẦM BÊ-TÔNG
- Điều 154. – Công nhân sử dụng máy đầm bê-tông phải mang ủng, găng tay cao-su hoặc găng tay bằng vải bạt.
- Điều 155. – Dây dẫn điện tới máy phải dùng loại dây cáp bọc cao-su tốt và phải treo lên cao, chỉ được để một đoạn dài không quá 5m kể từ đầu đấu vào máy trở lại nơi cung cấp điện để khi máy làm việc di động được dễ dàng.
- Điều 156. – Khi chuyển máy không được để dây dẫn điện bị căng thẳng. Khi chuyển máy đi một cự ly tương đối xa hoặc ngừng máy một lúc lâu thì phải cắt dòng điện từ cầu dao cung cấp điện cho máy, không được chỉ cắt điện bằng công tắc trên máy. Trước khi cho máy tiếp tục làm việc phải kiểm tra lại đầu dây dẫn điện đấu vào máy.
- IV. MÁY PHUN VỮA XI-MĂNG
- Điều 157. – Trước khi cho máy phun vữa làm việc, công nhân điều khiển máy phát hơi ép và công nhân điều khiển máy phun vữa phải kiểm tra các đường ống dẫn vữa dẫn khí ép vào đầu vòi phun. Chỉ được cho máy phun vữa và máy phát hơi ép làm việc khi chỗ nối các đầu ống dẫn hơi với máy phát hơi ép và máy phun vữa, chỗ nối các ông với nhau đã được xiết chặt.
- Điều 158. – Trước khi phun vào những công trình có thành đứng như: tường, vách, cột… phải tính toán để áp lực hơi phun phù hợp với sức chịu của công trình đó. Cấm người làm việc ở phía sau công trình mà phía trước vòi phun đang làm việc.
- Điều 159. – Ở những phía vòi phun chĩa đến phải có biển báo cấm người qua lại làm việc trong vòng bán kính tối thiểu là 10m.
- V. MÁY PHÁT HƠI ÉP
- Điều 160. – Máy phát hơi ép phải có đủ các bộ phận an toàn như: áp kế, nhiệt kế, van an toàn… Khi sử dụng phải bảo vệ và thường xuyên xem xét các bộ phận ấy, không được sử dụng quá trị số cho phép đã ghi trong thuyết minh thư của máy. Tại chỗ đặt máy phải có bàn ghi áp lực, nhiệt độ cho phép.
- Điều 161. – Khi máy đang làm việc, công nhân điều khiển máy không được rời đi chỗ khác, phải luôn theo dõi trị số áp kế và nhiệt kế, nếu thấy quá trị số cho phép phải điều chỉnh hoặc tắt máy ngay.
- Điều 162. – Mỗi máy phát hơi ép đều phải có dụng cụ và bình chữa cháy. Vị trí đặt máy phải cách xa các vật dễ cháy, nơi phát ra tia lửa điện, nơi có lửa ít nhất là 10m.
- Điều 163. – Phải bảo vệ ống dẫn hơi để không cho các phương tiện vận tải, các vật kiến trúc đè bẹp hoặc phá hủy.
- Điều 164. – Cấm dùng dầu xăng, dầu hỏa để lau, rửa những bộ phận chứa hơi ép hoặc hơi ép sẽ đi qua. Phải lau, rửa bằng loại dầu dành riêng che máy hơi ép. Phải chờ ít nhất là 3 giờ sau khi lau chùi xong máy mới được lắp xy-lanh.
- Điều 165. – Khi sử dụng dụng cụ chạy bằng khí ép phải:
- VI. MÁY ĐÓNG CỌC
- Điều 166. – Trước khi tiến hành công tác phải:
- Điều 167. – Sử dụng dây cáp chịu lực, dây chằng, dây cáp kéo ròng rọc… phải theo những điều quy định ở phần C chương III quy phạm này.
- Điều 168. – Nếu đặt máy đóng cọc làm việc ở chỗ đất xấu hoặc ở dưới nước thì gỗ sàn, bè máng phải tính toán đủ sức chịu đựng khi máy làm việc. Chiều rộng, chiều dài, sức chịu của gỗ kê phải tính toán để ngăn ngừa bánh xe của máy trượt ra ngoài hoặc gỗ kê bị dập nát.
- Điều 169. – Tất cả các máy đóng cọc có tháp đều phải có dây cáp thép chằng tháp. Độ vững chắc của dây chằng theo điều 116 trong quy phạm này.
- Điều 170. – Những máy đóng cọc làm việc bằng đường sắt thì phải theo những điều 104, 105, 106 trong quy phạm này.
- Điều 171. – Tất cả các các máy đóng cọc phải có bộ phận hạn chế nâng lên ở đầu tháp. Búa phải giữ chặt với tháp đóng cọc bằng dây cáp hoặc bằng các thiết bị đã có.
- Điều 172. – Những máy đóng cọc có tháp mà trên tháp có sàn để công nhân làm việc thì tất cả những dụng cụ làm việc để ở trên cao đều phải bỏ trong hộp hoặc túi có nắp đậy. Cấm người làm việc ở dưới khi có người làm việc ở trên cao. Những người làm việc ở chân tháp phải đội mũ an toàn.
- Điều 173. – Khi dùng máy đóng cọc loại búa nổi thì:
- Điều 174. – Trước khi dựng cọc phải kiểm tra chất lượng của cọc để loại bỏ những cọc không đảm bảo an toàn. Phương pháp và vị trí buộc để dựng cọc lên phải được sự hướng dẫn của cán bộ phụ trách thi công.
- Điều 175. – Cấm dùng móc tự động; cấm kéo lê cọc để dây cáp xiên. Trong lúc dựng cọc lên phải bố trí cho đường tim cọc trùng với đường tim của búa, mặt phẳng đầu cọc khít với búa.
- Điều 176. – Muốn sửa chữa, điều chỉnh lại cọc… phải để cho búa ngừng đập và hạ búa sát cọc. Muốn sửa chữa ở đầu cọc thì chỉ được nâng búa cách đầu cọc nhiều nhất là 30cm, giữ cố định búa với tháp bằng dây hay bằng chốt.
- Điều 177. – Khi nghỉ việc hoặc khi di chuyển máy mà không cần tháo tháp đóng cọc thì phải hạ búa xuống thanh chắn cuối cùng của tháp.
- VII. MÁY NGHIỀN ĐÁ
- Điều 178. – Máy nghiền đá phải đặt cách các máy khác 10m. Những người không có nhiệm vụ phải cách máy 5m, công nhân phục vụ và làm việc ở tại máy phải đeo kính phòng hộ và khẩu trang.
- Điều 179. – Khi đổ đá vào máy nghiền bằng các dụng cụ cầm tay phải đổ nhanh và gọn, không để dụng cụ va chạm vào các bộ phận chuyển động của máy.
- VIII. MÁY RỬA SỎI, RỬA ĐÁ
- Điều 180. – Những bộ phận chuyển động để làm quay sàng của máy phải có thiết bị bao che. Đối với các máy chuyển động bằng điện thì phải tuân theo điều 7 quy phạm này.
- Chương VI PHẠM VI VÀ TRÁCH NHIỆM THI HÀNH
- Điều 181. – Bản quy phạm này áp dụng cho những công trường có sử dụng các máy thi công thuộc tất cả các ngành ở trung ương cũng như ở địa phương.
- Điều 182. – Toàn thể cán bộ và công nhân trực tiếp quản lý, điều khiển, sửa chữa hoặc làm việc liên quan tới máy thi công phải chấp hành nghiêm chỉnh bản quy phạm này.
- Điều 183. – Những người do thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc cố tình để vi phạm bản quy phạm này, sẽ bị thi hành kỷ luật; nếu để xảy ra tai nạn lao động, hư hỏng máy móc làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, sẽ bị truy tố trước pháp luật.
- PHỤ BẢN 1 Điều 653 của pháp quy quản lý kỹ thuật các nhà máy điện và lưới điện của Bộ Thủy lợi điện lực
- PHỤ BẢN 2 TIÊU CHUẨN LOẠI BỎ DÂY CÁP THÉP
Thông tư số 14-LĐ-TT ngày 30/07/1964 Ban hành quy phạm tạm thời về kỹ thuật an toàn khi sử dụng máy thi công trên công trường (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 14-LĐ-TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Cơ quan ban hành: Bộ Lao động
- Ngày ban hành: 30-07-1964
- Ngày có hiệu lực: 14-08-1964
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh