- I. NỘI DUNG BẢN QUY PHẠM
- II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
- QUY PHẠM KỸ THUẬT AN TOÀN KHAI THÁC ĐÁ
- Chương 1: NGUYÊN TẮC CHUNG
- Điều 1. - Để quản lý tốt việc khai thác đá, đảm bảo an toàn trong sản xuất, không một cơ quan hay đoàn thể nào được mở xí nghiệp khai thác đá nếu chưa được chính quyền địa phương (Ủy ban hành chính tỉnh hay thành phố trực thuộc) nơi có núi đá cho phép.
- Điều 2. – Đơn xin phép mở xí nghiệp khai thác đá phải gửi qua cơ quan lao động địa phương để nghiên cứu về mặt bảo hộ lao động trước khi chuyển lên Ủy ban hành chính xét duyệt. Kèm theo đơn xin phép phải có sơ đồ địa hình khu vực khai thác và biện pháp đảm bảo an toàn lao động phù hợp với những điều quy định trong quy phạm này.
- Điều 3. – Xí nghiệp khai thác đá có trách nhiệm hướng dẫn về kỹ thuật khai thác; giáo dục và đôn đốc thực hiện các quy phạm an toàn khai thác đá, quy phạm an toàn về vận chuyển, bảo quản và sử dụng thuốc nổ cho công nhân, đồng thời thi hành đúng các chế độ bảo hộ lao động của Nhà nước đã ban hành.
- Điều 4. – Xí nghiệp khai thác đá phải dựa vào bản quy phạm này xây dựng quy trình an toàn cho các nghề hoặc trích ra từng chương để tổ chức cho công nhân làm nghề nào học phần ấy trong một thời gian ít nhất bằng một ngày. Riêng cán bộ chỉ đạo sản xuất và công nhân làm việc trên núi, khoan bắn mìn, bẩy đá, vận chuyển, phải học tập trong một thời gian ít nhất bằng hai ngày, sau khi học tập phải được sát hạch về lý thuyết và thực hành có đạt yêu cầu mới được cấp giấy chứng nhận để làm việc. Hàng năm phải tổ chức học tập và sát hạch lại một lần.
- Điều 5. – Công nhân mới tuyển, sau khi học quy phạm, quy trình về an toàn phải qua một thời gian tập sự, có công nhân cũ hướng dẫn tới khi được cán bộ phụ trách công trường công nhận có đủ khả năng, mới được độc lập công tác.
- Điều 6. – Không được nhận người già trên 55 tuổi, trẻ em dưới 16 tuổi, người tàn tật, mắt kém, tai điếc hoặc bị bệnh phổi, thần kinh... vào làm đá. Người làm việc trên núi, khoan bắn mìn, bẩy đá phải là nam giới trên 18 và dưới 50 tuổi, có giấy chứng nhận sức khỏe của y bác sĩ. Hàng năm phải kiểm tra sức khỏe lại một lần.
- Điều 7. – Hàng ngày, trước khi bố trí công nhân vào làm việc, cán bộ trực tiếp chỉ đạo sản xuất (tổ trưởng, đội trưởng...) phải xem xét nơi làm việc có bảo đảm an toàn mới được cho công nhân vào làm; phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc thực hiện các quy trình an toàn lao động trong đơn vị của mình.
- Điều 8. – Xí nghiệp phải trang bị bảo hộ lao động cho công nhân làm đá (kể cả lực lượng thường xuyên và lực lượng tạm thời) theo chế độ hiện hành của Nhà nước.
- Điều 9. – Sau khi đã học tập các quy phạm và quy trình an toàn công nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành, tuân theo sự hướng dẫn của cán bộ phụ trách. Trong khi làm việc nếu thấy nguy hiểm mà không giải quyết được thì phải báo cáo ngay với cán bộ phụ trách để có biện pháp giải quyết kịp thời.
- Điều 10. – Xí nghiệp phải làm lán trú mưa nắng và cung cấp đủ nước uống đun sôi cho công nhân làm việc ngoài công trường.
- Điều 11. – Nơi có nguy hiểm xí nghiệp phải đặt biển báo, rào chắn, không cho người vào làm việc hoặc đi lại trong phạm vi nguy hiểm.
- Điều 12. - Ở mỗi công trường phải có túi thuốc cấp cứu. Khi xảy ra tai nạn lao động phải tập trung khả năng vào việc cấp cứu; sau đó phải tổ chức kiểm điểm tìm nguyên nhân, đề ra biện pháp khắc phục, ngăn ngừa tai nạn tái phát và phổ biến cho công nhân trong toàn xí nghiệp biết.
- Điều 13. – Những xí nghiệp có sử dụng điện phải triệt để chấp hành quy phạm kỹ thuật an toàn về điện và xây dựng quy trình an toàn về sử dụng điện cho công nhân học tập.
- Chương 2: AN TOÀN KHI LÀM VIỆC Ở TRÊN NÚI
- Điều 14. – Khai thác đá ở trên núi phải cắt tầng, khai thác dần từ trên xuống để lấy chỗ cho công nhân đứng làm việc được an toàn.
- Điều 15. – Công nhân làm việc trên núi phải đứng hàng một theo chiều dài của mặt tầng, không được để người làm tầng trên người làm tầng dưới trong phạm vi 6m theo chiều nằm ngang, hoặc làm việc ở chỗ nguy hiểm do đá ở chỗ đứng hoặc phía trên có thể sụt lở.
- Điều 16. – Làm việc trên cao từ 2 mét trở lên ở những chỗ cheo leo nguy hiểm hay gần mép tầng dốc trên 450 phải mang dây an toàn. Đầu trên của dây an toàn phải buộc vào cọc hoặc cây vững chắc không ải mục; lỗ cắm cọc phải đục vào đá liền sâu 40 phân. Nếu dây dài trên 20 mét phải làm thêm những cọc phụ chắc chắn cách nhau không quá 15 mét để giữ dây an toàn.
- Điều 17. – Khi buộc dây an toàn, không được để chùng quá 1 mét, đường dây từ cọc xuống tới người phải thẳng. Không được bố trí đường dây chéo, không được buộc chung hai người một dây hoặc một cọc.
- Điều 18. – Công trường phải làm lối lên xuống núi cho công nhân, độ dốc không quá 600, mỗi bậc không cao quá 25cm, rộng trên 25cm và dài trên 50cm. Nếu lối lên xuống cheo leo hoặc có độ dốc trên 300 phải có tay vịn chắc chắn. Lên xuống núi phải theo đúng lối quy định.
- Điều 19. - Dụng cụ mang lên xuống núi phải buộc gọn gàng vừa sức mang. Nếu lên xuống bằng dây leo không được mang dụng cụ lên hay xuống cùng một lúc với người. Không được lao dụng cụ (choòng, búa, xà-beng...) xuống núi.
- Điều 20. - Cấm làm việc trên núi khi trời mưa to, có sương mù dày hoặc khi trời tối.
- Điều 21. – Trước khi đục đá phải chuẩn bị đầy đủ dụng cụ làm việc (choòng, búa, nước...) và để các thứ đó có thứ tự khi cần có thể lấy được dễ dàng.
- Điều 22. – Trước khi làm việc công nhân phải kiểm tra lại cán búa, nêm đầu búa. Chỗ đứng làm việc, dây an toàn có chắc chắn mới bắt đầu làm. Búa đục đá không được nặng quá 3kg.
- Điều 23. – Người đứng thọc choòng, đánh búa hay ngồi quay choòng phải có thế vững vàng; không được đứng hoặc ngồi quay lưng ra phía mép tầng.
- Điều 24. – Lúc mới khai lỗ choòng không đánh búa mạnh, đề phòng trật choòng, văng búa mất đà có thể ngã và gây ra tai nạn cho người cầm choòng. Đục choòng ở trên núi cao không quai búa thẳng tay để tránh mất thăng bằng. Không cầm sát đầu cán búa, cán búa có mồ hôi phải lau khô ngay, đặc biệt người có bệnh luôn luôn ra mồ hôi tay không được đánh búa.
- Điều 25. – Trong khi làm việc người đánh búa và người cầm choòng phải chú ý đề phòng đánh trật búa gây ra tai nạn. Nếu choòng bị cong hoặc đầu choòng bị toét phải đổi choòng khác để tránh mảnh sắt bắn vào người.
- Điều 26. – Những lỗ choòng đục hết buổi chưa xong phải nút lại, buổi sau khi bỏ nút ra phải kiểm tra kỹ trong lỗ, không có vật gì trong đó mới tiếp tục đục.
- Điều 27. – Khoan đá trên núi phải đứng trên mặt tầng bằng phẳng, vững chắc. Không được bố trí người đứng khoan trên sườn núi cheo leo.
- Điều 28. – Công nhân điều khiển máy khoan phải mặc quần áo gọn gàng, đề phòng choòng đang quay cuốn phải gây ra tai nạn.
- Điều 29. – Sau khi chuẩn bị xong mới mở van hơi ép cho hơi vào máy để làm việc. Bắt đầu mở lỗ và khi rút choòng ra phải cho máy chạy từ từ. Không được dùng tay giữ mũi khoan khi mở lỗ.
- Điều 30. – Khi khoan phải có hai người điều khiển một máy. Không được lắp choòng dài cao hơn người, máy phải luôn luôn ở dưới tầm ngực để khi choòng có bị gẫy cũng ít nguy hiểm. Cấm dùng chân hoặc bất cứ một vật nào khác để tỳ lên búa khoan.
- Điều 31. - Sử dụng hơi ép phải thận trọng, tránh để hơi phụt vào người có thể gây ra tai nạn. Cấm dùng hơi ép thổi vào người để phủi bụi quần áo hoặc đùa nghịch.
- Điều 32. – Khi di chuyển máy và dây dẫn hơi ép phải báo cho mọi người biết, tránh xa đề phòng đá rơi vào người. Cấm bám vào ống cao su dẫn hơi ép để lên xuống núi.
- Điều 33. – Trước khi bố trí người lên bẩy đá trên núi xuống, cán bộ chỉ đạo trực tiếp (tổ trưởng, đội trưởng) phải đặt biển cấm và phân công người canh gác dưới chân núi, không cho người vào làm việc trong phạm vi nguy hiểm.
- Điều 34. – Công nhân cạy gỡ đá trên núi phải được phân công rõ ràng và chỉ khi nào được phép của cán bộ phụ trách mới bắt đầu bẩy đá. Người cạy gỡ mảng nào có trách nhiệm mà sạch mảng đó.
- Điều 35. - Bẩy đá trên núi phải có chỗ đứng an toàn, nếu có nhiều người cùng bẩy phải đứng thành hàng ngang, không đứng người trên người dưới, người nọ đứng cách người kia ít nhất 6 mét. Bẩy tầng trên sạch đá mới được tiếp tục xuống bẩy tầng dưới.
- Điều 36. – Khi bẩy đá không được một tay cầm dây chồm người ra bẩy những hòn đá cheo leo, không đứng phía dưới đưa xà beng chọc ngược lên, không được đu người lên hoặc ghé vai vào xà-beng hoặc để xà-beng trước ngực mà bẩy.
- Điều 37. – Không được dùng tay thay xà-beng cạy hoặc vần đá.
- Điều 38. – Những hòn đá bẩy xuống nửa chừng bị mắc kẹt phải tìm cách gỡ xuống hết. Những hòn đá cheo leo nguy hiểm không cạy gỡ được phải báo cho tổ trưởng hoặc đội trưởng biết để có biện pháp giải quyết thích hợp hoặc đánh mìn ốp cho xuống. Nếu chưa giải quyết được phải đặt biển cấm rằo chắn phía dưới, không cho người vào làm việc hoặc đi lại trong phạm vi nguy hiểm.
- Điều 39. - Chỉ khi nào đã bẩy sạch đá, không còn đá cheo leo nguy hiểm có thể rơi bất ngờ, người trên núi đá xuống hết và được phép của cán bộ phụ trách người canh gác mới được bỏ biển cấm, rào chắn và cho người vào làm việc dưới chân núi.
- Điều 40. – Xí nghiệp cần bố trí thời gian bắn đá cho hợp lý để có đủ thời gian bẩy hết đá trước khi về nghỉ.
- Chương 3: AN TOÀN KHI SỬ DỤNG THUỐC NỔ BẮN ĐÁ
- Điều 41. - Việc bảo quản, vận chuyển và sử dụng thuốc nổ để bắn đá phải triệt để tôn trọng quy phạm an toàn về vận chuyển, bảo quản và sử dụng vật liệu nổ.
- Điều 42. – Phải dựa vào bản quy phạm an toàn bảo quản, vận chuyển, sử dụng vật liệu nổ và bản quy phạm này để xây dựng quy trình kỹ thuật an toàn, sử dụng, bảo quản mìn trong xí nghiệp, công trường.
- Điều 43. – Những người làm công tác bắn mìn phá đá phải là những người:
- Điều 44. – Người phụ trách công tác bắn mìn phá đá phải là cán bộ kỹ thuật hoặc công nhân đã có nhiều kinh nghiệm sử dụng thuốc nổ, được giám đốc hoặc Ban chỉ huy chỉ định.
- Điều 45. – Trước khi tiến hành khoan lỗ bắn mìn phải có thiết kế (mìn buồng) hoặc hộ chiếu do người phụ trách công tác nổ mìn lập ra và được giám đốc hoặc Ban chỉ huy duyệt. Hộ chiếu phải nêu rõ:
- Điều 46. – Ban chỉ huy công trường hoặc giám đốc xí nghiệp phải quy định tín hiệu nổ mìn thống nhất, phổ biến cho công nhân trong toàn xí nghiệp và thông báo cho nhân dân trong khu vực gần đó biết.
- Điều 47. – Khi mang kíp, thuốc nổ ra công trường phải có túi hoặc hòm gỗ đựng kíp riêng, thuốc riêng, để vào nơi mát, tránh những chỗ chấn động mạnh hoặc đất đá có thể văng tới (Trường hợp đựng bằng hồm gỗ có thể để chung thuốc và kíp trong một hòm nhưng phải có ngăn riêng).
- Điều 48. – Cán bộ phụ trách công tác bắn mìn phải trực tiếp hướng dẫn, kiểm tra trong suốt thời gian chuẩn bị, nạp thuốc và bắn mìn.
- Điều 49. - Cấm nạp thuốc và bắn mìn khi trời tối hoặc ban đêm. Trường hợp đặc biệt bắn mìn buổi tối phải lập biên bản có biện pháp an toàn cụ thể do giám đốc hoặc Ban chỉ huy duyệt và chịu trách nhiệm đồng thời phải báo với cơ quan công an địa phương.
- Điều 50. - Cấm cắt dây cháy chậm quá ngắn hoặc tháo thuốc ở dây ra để đốt bông không. Phải tính toán chiều dài của dây sao cho đủ thời gian để công nhân đốt mìn xong đi tới nơi an toàn mìn mới nổ; nhưng tối thiểu cũng không được ngắn hơn 1 mét.
- Điều 51. - Cắt dây mìn phải dùng dao sắt cắt nhẹ tay, không được kê lên sắt, lên đá rồi giơ dao chặt mạnh.
- Điều 52. – Khi nhồi thuốc vào lỗ không được dùng que sắt mà phải dùng que tre hoặc gỗ ấn cho các thỏi thuốc khít vào nhau, không thọc mạnh.
- Điều 53. – Khi nhồi thuốc xong nhất thiết phải nút lỗ; đất để nút lỗ mìn phải là đất sét mềm, không lẫn đá dăm. Khi nút lỗ phải giữ dây mìn cho thẳng đề phòng dây bị dập nát, mìn không nổ.
- Điều 54. – Khi đốt mìn phải có sự phân công cụ thể và ấn định các lối đi lại rõ ràng. Lỗ mìn gần nhau, lối đi lại dễ dàng; mỗi người không được đốt quá năm phát; nếu các lỗ mìn ở xa nhau hoặc đi lại khó khăn mỗi người không được đốt quá hai phát.
- Điều 55. – Khi đốt trên năm phát mìn bằng dây cháy chậm và có hai người trở lên đốt phải có ngòi mìn báo hiệu. Dây cháy chậm của ngòi mìn báo hiệu phải cùng loại và ngắn hơn dây của các phát mìn phá đá ít nhất là 60cm. Khi đốt mìn phải đốt ngòi báo hiệu trước, mìn báo hiệu nổ thì người phụ trách bắn mìn phải lập tức ra lệnh cho mọi người dù đốt chưa hết cũng phải rút ra nơi an toàn.
- Điều 56. – Khi mìn nổ người phụ trách nổ mìn phải đếm xem mìn đã nổ hết chưa. Nếu đã nổ hết, sau năm phút có thể vào kiểm tra rồi báo hiệu thôi lệnh giới nghiêm. Nếu không đếm được hoặc nghi ngờ có mìn câm phải đợi một giờ sau khi đốt, cán bộ phụ trách bắn mìn mới được vào kiểm tra có đánh dấu các lỗ mìn câm nếu có. Lệnh giới nghiêm phải giữ nguyên trong lúc kiểm tra và cho tới khi giải quyết xong các lỗ mìn câm.
- Điều 57. - Việc thanh toán các phát mìn câm phải làm dưới sự hướng dẫn của cán bộ phụ trách bắn mìn và do chính người đã nhồi thuốc, đốt phát mìn đó giải quyết.
- Điều 58. – Trong mọi trường hợp, cấm dùng bất cứ vật gì để moi móc hoặc rút dây lấy kíp trong lỗ mìn ra. Trường hợp đặc biệt có những lỗ mìn thuốc chỉ cháy phụt lên chứ không nổ cũng cấm khoan thêm hoặc dùng bất cứ một vật gì thọc mạnh vào lỗ mìn, đề phòng thuốc còn sót lại sẽ nổ gây ra tai nạn. Gặp trường hợp này có thể đợi 30 phút sau khi cháy cho lỗ mìn bớt nóng, rồi nạp thuốc kíp vào bắn lại; trước khi nạp thuốc phải cho một thỏi đất sét mềm xuống đáy lỗ.
- Điều 59. - Nếu lỗ mìn chưa nổ, dây mìn còn nguyên chưa cháy và đường cán lỗ mìn không thay đổi nhiều, cán bộ phụ trách bắn mìn có thể cho đốt lại. Nếu dây đã cháy dở hoặc đường cản còn nhỏ không được đốt lại vì dây ngắn cháy chóng hết sẽ không đủ thời gian cho người đốt đi tới nơi an toàn, đường cản nhỏ đá sẽ văn ra gây ra tai nạn.
- Điều 60. - Trường hợp bắn mìn theo phương pháp áp thuốc bên ngoài (mìn ốp), nếu không nổ có thể lấy tay khẽ bóc lớp đất phủ bên trên rồi lại cho một mìn mồi khác vào lấp đất như cũ để bắn lại.
- Điều 61. – Đối với các lỗ mìn nông, đoạn nút không dài (dưới 40cm) cũng có thể áp thuốc bên ngoài miệng lỗ hoặc lợi dụng các khe có sẵn lấp đất để bắn kích thích cho thuốc mìn trong lỗ câm cùng nổ.
- Điều 62. - Trường hợp không thể bắn theo phương pháp áp thuốc bên ngoài được, (như lỗ mìn sâu, đoạn nút dài, thuốc kém truyền nổ) phải khoan một lỗ khác song song với lỗ mìn câm, khoảng cách tùy theo chiều sâu và số lượng thuốc trong lỗ mìn câm, nhưng ít nhất cũng phải ngoài 30 phân, chiều sâu gần bằng lỗ cũ để nhồi thuốc bắn kích thích. Việc xác định hướng lỗ khoan này phải rất thận trọng, nếu khoan chệch vào thuốc mìn câm sẽ làm nổ phát mìn câm gây ra tai nạn.
- Điều 63. - Xử lý mìn câm theo phương pháp nào phải do cán bộ phụ trách nổ mìn xem xét, tùy theo hoàn cảnh thực tế của mỗi trường hợp mà quyết định, nhưng không được làm trái với những điều quy định trong quy phạm này.
- Điều 64. – Sau khi bắn lại hoặc bắn kích thích xong, cán bộ phụ trách bắn mìn phải kiểm tra xem lỗ mìn câm có nổ hoàn toàn không, nếu còn kíp, thuốc nổ vương vãi phải thu nhặt hết, bảo đảm an toàn mới báo hiệu lệnh an toàn.
- Điều 65. – Sau khi mìn nổ phải đợi hiệu lệnh của người phụ trách, công nhân bắn mìn mới được ra khỏi hầm hoặc nơi trú ẩn.
- Điều 66. - Nếu một buổi bắn nhiều lỗ mìn, diện bắn mìn rộng, dài, phải bố trí bắn làm nhiều đợt. Phải có chỉ huy thống nhất, nơi xa bắn trước, nơi gần bắn sau.
- Điều 67. – Khi bắn mìn làm nhiều đợt phải có sự phân công rõ ràng và báo cho tất cả cán bộ, công nhân có trách nhiệm về bắn mìn biết trước.
- Điều 68. - Số lượng thuốc, kíp của công trường, xí nghiệp để sử dụng thường xuyên phải có kho bảo quản theo đúng yêu cầu về thiết kế và khoảng cách an toàn đối với kho tiêu thụ thường xuyên như đã quy định trong bản quy phạm an toàn về bảo quản, vận chuyển và sử dụng vật liệu nổ.
- Điều 69. - Thủ kho mìn phải được học tập về tính chất các loại thuốc, kíp và cách bảo quản, sắp xếp các loại thuốc, kíp trong kho... Sau khi học tập có sát hạch và cấp giấy chứng nhận.
- Điều 70. – Phân phát thuốc nổ phải có sổ sách xuất nhập rõ ràng theo mẫu quy định chung trong bản hướng dẫn của quy phạm an toàn bảo quản, vận chuyển và sử dụng vật liệu nổ.
- Điều 71. – Hàng ngày cán bộ tổ trưởng, đội trưởng phải căn cứ vào hộ chiếu cần bao nhiêu thuốc, kíp thì xin lĩnh bấy nhiêu. Nếu sử dụng còn thừa phải mang trả lại kho, không được mang về nhà ngủ, phòng làm việc hoặc để ở bất cứ nơi nào khác.
- Điều 72. – Các hợp tác xã hoặc nhân dân làm khoán bán đá cho cơ quan, xí nghiệp nếu có dùng mìn để bắn đá thì cơ quan hay xí nghiệp cung cấp mìn cho họ phải có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi việc sử dụng hàng ngày theo đúng quy phạm kỹ thuật an toàn.
- Chương 4: AN TOÀN KHI LÀM VIỆC Ở CHÂN NÚI
- Điều 73. – Trước khi đưa công nhân vào chân núi làm việc, cán bộ chỉ đạo trực tiếp (tổ trưởng, đội trưởng) phải quan sát kỹ trên núi và xung quanh có bảo đảm an toàn mới cho công nhân vào làm việc.
- Điều 74. – Trước khi đập đá hộc phải kiểm tra lại cán búa và nêm đầu búa cho chắc chắn, chỗ đứng phải có thế vững chắc, xung quanh gọn gàng, có đường rút lui khi cần thiết.
- Điều 75. – Khi đập đá hộc phải chú ý:
- Điều 76. - Nếu có nhiều người cùng đập, phải đứng thành hàng ngang và cách nhau ít nhất 5m.
- Điều 77. - Đập đâu phải cho hết đấy và xếp dọn cho gọn gàng. Đá hộc phải xếp cách xa chỗ đập đá dăm và đường vận chuyển 5 mét. Đống đá không xếp cao quá 1 mét.
- Điều 78. – Không được vần hoặc quăng đá hộc trong khi có người đập đá hoặc làm việc khác ở phía dưới.
- Điều 79. - Chỗ đập đá dăm phải cách xa chân núi ít nhất 20m và cách chỗ đập đá hộc 10m.
- Điều 80. - Đập đá dăm, phải ngồi thành hàng và cách nhau ít nhất 1,5 mét. Không ngồi đối diện với nhau. Không ngồi quay mặt về phía gió bụi.
- Điều 81. – Bãi đập đá phải do công trường quy định, bãi phải bằng phẳng và đủ rộng để bố trí chỗ đập đá hộc, đá dăm và đi lại được an toàn.
- Điều 82. - Chỗ làm việc phải dọn sạch đá mạt ở chân núi. Khai thác đá mạt phải lấy từ trên xuống không được moi đứng thành hoặc hàm ếch.
- Chương 5: AN TOÀN KHI VẬN CHUYỂN ĐÁ
- Điều 83. – Khi bê đá phải chú ý những hòn đá nứt dạn hoặc mỏng có thể vỡ rơi vào chân. Vận chuyển đá ban đêm phải có đủ ánh sáng.
- Điều 85. – Gánh đá phải có giành, sọt chắc chắn, không được dùng quang hoặc dây trão không để xếp đá.
- Điều 86. – Khi có nhiều người gánh đá phải đi người trước người sau, không đi hàng ngang, nhất là ở những quãng đường hẹp thì tuyệt đối không để đi hàng ngang.
- Điều 87. - Đường để gánh đá phải bằng phẳng, nếu độ dốc lớn phải làm bậc vững chắc.
- Điều 88. – Khi đổ đá lên đống nếu cần bắc cầu gỗ để lên xuống thì cầu phải đủ cứng, rộng và có nẹp bậc để khi lên xuống không bị trơn ngã gây ra tai nạn.
- Điều 89. – Khi xếp đá lên xe, phải để xe ở nơi bằng phẳng. Khi xếp không đứng hai bên thành xe, phải xếp chắc chắn và không đầy quá thành xe.
- Điều 90. – Khi đẩy xe không được đi nối đuôi nhau, phải cách nhau ít nhất 5 mét, phải luôn luôn chú ý phía trước để tránh vấp phải đá làm đổ xe.
- Điều 91. – Khi đổ đá phải giữ hai càng xe cho chắc chắn, đề phòng tuột tay càng xe đánh vào người.
- Điều 92. – Đường để đẩy xe cút-kít phải bằng phẳng, không lún hoặc lầy lội khi trời mưa. Phải có lối đi đủ rộng hoặc một lối đi một lối về riêng để tránh đâm phải nhau khi đi ngược chiều.
- Điều 93. – Khi đặt đường goòng phải theo đúng các yêu cầu sau đây:
- Điều 94. – Phải thường xuyên kiểm tra đường ray, sửa chữa kịp thời trước chỗ hư hỏng, sai quy cách kỹ thuật để bảo đảm an toàn cho công nhân đẩy goòng.
- Điều 95. – Khi bốc đá lên goòng phải chèn goòng cho chắc chắn và phải có cây chống thùng goòng cho khỏi lật. Xếp đá phải cho cân bằng, những hòn đá to cho xuống đáy goòng, không xếp đầy quá thành xe.
- Điều 96. – Goòng nặng một tấn trở lên phải có hai người đẩy một goòng. Trước khi cho goòng chạy phải nhìn đằng trước nếu không có gì chướng ngại thì một người hãm phanh giữ goòng lại, một người tháo các chèn bánh, xong rồi mới cho chạy từ từ.
- Điều 97. – Khi đẩy goòng phải để tay lên gần thành goòng, không để tay vào phía dưới tai goòng, đề phòng toa tự động lật xuống bị kẹp tay.
- Điều 98. – Khi goòng trật bánh phải báo ngay cho goòng sau biết, đồng thời nhảy ra ngoài để tránh, đợi khi goòng sau dừng lại hẳn mới trở lại bốc cặm. Khi đẩy goòng gần tới chỗ đường cong hoặc đường dốc phải cho goòng chạy chậm lại.
- Điều 99. – Người đẩy goòng phải làm chủ được tốc độ của goòng. Tốc độ tối đa là 6km/giờ. Cấm không được cho goòng chạy tự do.
- Điều 100. – Hai goòng chở nặng phải cách nhau ít nhất 10 mét, goòng không cách nhau 5 mét. Người đẩy goòng sau có trách nhiệm giữ đúng cự ly nói trên.
- Điều 101. – Xe goòng nhất thiết phải có phanh hãm tốt để khi cần thiết có thể hãm goòng dừng lại.
- Điều 102. – Khi goòng gần tới nơi đỗ phải cho chạy chậm lại. Khi đổ đá trên goòng xuống phải đợi cho goòng dừng hẳn và quan sát phía dưới, nếu không có trở ngại mới được lật toa.
- Điều 103. – Ô-tô dùng để chở đá trong phạm vi công trường cũng phải tôn trọng các luật lệ giao thông của Bộ Giao thông và Bộ Công an ban hành, đồng thời phải tuân theo các điều quy định trong quy phạm này.
- Điều 104. – Xí nghiệp khai thác đá có dùng ô-tô để vận chuyển phải xây dựng quy trình an toàn về vận chuyển bằng ô-tô cho công nhân học tập.
- Điều 105. – Ô-tô vào trong phạm vi công trường phải chạy chậm lại và theo đúng đường quy định, không được vượt nhau, không được vào những nơi nguy hiểm mà chưa được phép. Trong giờ bắn mìn ô-tô phải đỗ ngoài khu vực cấm.
- Điều 106. – Cấm chở người trên thùng xe ben, cho người bám ngoài buồng lái, hoặc ngồi trên thành xe khi xe đang chạy. Những xe chở đá gần đầy thùng hoặc chở các chất nổ không được chở thêm người.
- Điều 107. – Vất đá lên xe chỉ được đứng ở một bên. Nếu xe cao phải bắc cầu lên xuống có nẹp bậc chắc chắn.
- Chương 6: PHẠM VI VÀ TRÁCH NHIỆM THI HÀNH
- Điều 108. – Bản quy phạm này thay thế bản quy tắc an toàn làm đá kèm theo Thông tư số 05-LĐ-TT ngày 13-02-1961 của Bộ Lao động và áp dụng cho tất cả các xí nghiệp khai thác đá thuộc tất cả các ngành ở trung ương cũng như ở địa phương.
- Điều 109. – Toàn thể cán bộ và công nhân làm việc tại các xí nghiệp khai thác đá phải chấp hành nghiêm chỉnh bản quy phạm này.
- Điều 110. – Đối với các hợp tác xã nông nghiệp có khai thác đá, Ủy ban hành chính địa phương sẽ căn cứ vào tinh thần bản quy phạm này mà quy định những điều cần thiết và hướng dẫn thi hành cho thích hợp.
Thông tư số 12-LĐ-TT ngày 14/07/1964 Ban hành quy phạm kỹ thuật an toàn khai thác đá (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 12-LĐ-TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Cơ quan ban hành: Bộ Lao động
- Ngày ban hành: 14-07-1964
- Ngày có hiệu lực: 29-07-1964
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 01-01-1982
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 6365 ngày (17 năm 5 tháng 10 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 01-01-1982
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh