- THÔNG TƯ CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 67-TTG NGÀY 20 THÁNG 6 NĂM 1962 QUY ĐỊNH BIỆN PHÁP, TỔ CHỨC GIỮ GÌN BÍ MẬT CỦA NHÀ NƯỚC ĐỂ THI HÀNH NGHỊ ĐỊNH SỐ 69/CP NGÀY 14 THÁNG 6 NĂM 1962 CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
- 1- Căn cứ vào những quy định về phạm vi bí mật của Nhà nước nói trong Nghị định số 69/CP ngày 14-6-1962 của Hội đồng Chính phủ, mỗi cơ quan, đơn vị thuộc các ngành, các cấp trong phạm vi trách nhiệm công tác của mình, cần quy định cụ thể và ghi thành danh mục những vấn đề thuộc bí mật nghiệp vụ. Danh mục những vấn đề thuộc phạm vi bí mật của Nhà nước do Hội đồng Chính phủ phê duyệt; danh mục những vấn đề thuộc phạm vi bí mật nghiệp vụ do Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ phê duyệt. Những danh mục này phải được thông tri cho tất cả các Bộ phụ trách có trách nhiệm và cán bộ có liên quan để biết và giữ gìn bí mật.
- 2- Những công văn, tài liệu, sách báo có nội dung bí mật tuỳ theo mức độ quan trọng, cần được chia làm ba loại "Tuyệt mật", "Tối mật", "Mật".
- 3- Bất cứ người được biết những điều bí mật, hoặc được giữ những công văn, tài liệu bí mật, đều phải nghiêm chỉnh tuân theo những điều dưới đây:
- 4- Việc tiếp phát và chuyển giao công văn, tài liệu bí mật phải làm theo đúng những quy định dưới đây:
- 5- Công văn, tài liệu bí mật chỉ được đánh máy và in ở bộ phận đánh máy và in đã được quy định của cơ quan, đơn vị; tuyệt đối không được thuê hoặc nhờ người ngoài đánh máy; trong trường hợp thật cần thiết phải thuê in ở nơi khác, thì phải được thủ trưỏng cơ quan, đơn vị từ cấp tỉnh hoặc đương đương cấp tỉnh trở lên cho phép và phải có kế hoạch để bảo đảm giữ bí mật tài liệu đưa in. Chỉ được đánh máy, in đúng số bản đã quy định; trên bản đánh máy phải ghi rõ số bản và tên người đánh máy; khi đánh máy, in xong phải giao hết bản đã in, đánh máy và cả bản thảo cho người đã giao. Những giấy nến, khuôn in tài liệu mật, những giấy than đánh máy tài liệu "Tuyệt mật" "Tối mật" sau khi in hoặc đánh máy xong phải được huỷ ngay trước mặt người nhận những bản đã in hoặc đánh máy.
- 6- Không được tự tiện huỷ công văn, tài liệu bí mật. Đối với những công văn, tài liệu bí mật có tính chất nhất thời đã hết tác dụng thì có thể huỷ, nhưng phải được thủ trưỏng cơ quan, đơn vị từ cấp tỉnh hoặc cấp tương đương cấp tỉnh trở lên cho phép, khi huỷ phải có ít nhất hai ngưòi (trong số đó có cán bộ phụ trách công tác lưu trữ) chứng kiến và phải ký vào sổ huỷ công văn, tài liêụ bí mật.
- 7- Các cơ quan, xí nghiệp của Nhà nước, các đoàn thể nhân dân có công tác giao dịch với người nước ngoài, hoặc với cơ quan đoàn thể của người nước ngoài, cần đặt chế độ giao dịch cho cán bộ có trách nhiệm theo nguyên tắc thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước và theo các điều quy định dưới đây:
- 8- Cán bộ, nhân viên, chiến sĩ làm công tác "bảo mật" hoặc làm công tác bí mật hay có liên quan đến tài liệu bí mật phải được thẩm tra lý lịch trước khi tuyển dụng hoặc phân công; những cán bộ này phải có lý lịch tốt, có tư cách đạo đức tốt, tác phong ngăn nắp, kín đáo; cần tránh thay đổi những người làm công tác bí mật. Việc chọn người làm những công tác này ở trong các cơ quan, xí nghiệp của Nhà nước phải được sự đồng ý của cơ quan công an có trách nhiệm; trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, thì phải được sự đồng ý của cơ quan bảo vệ quân đội.
- 9- Trừ những cơ quan đặc biệt có hệ thống "bảo mật" chuyên trách riêng, còn nói chung trong mỗi cơ quan, đơn vị tuỳ theo công tác có liên quan nhiều hay ít đến những việc bí mật, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có trách nhiệm tổ chức một tổ "bảo mật" hay chỉ định một cán bộ phụ trách "bảo mật" để giúp mình trong việc quy định chế độ, nội quy giữ gìn bí mật của từng bộ phận công tác, trong việc đôn đốc kiểm tra sự thực hiện chế độ, nội dung ấy. Cán bộ trong "tổ bảo mật" hay cán bộ phụ trách "bảo mật" trên đây đều là cán bộ làm công tác kiêm nhiệm như cán bộ bảo vệ cơ quan, cán bộ văn thư, cán bộ lưu trữ ...
- 10- Trong mỗi cơ quan, đơn vị, việc kiểm tra công tác giữ gìn bí mật phải đặt thành chế độ thường xuyên; khi thấy mất tài liệu bí mật phải báo cáo ngay lên thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp, đồng thời phải báo ngay cơ quan công an có trách nhiệm để kịp thời truy xét.
- 11- Các Bộ, các ngành ở Trung ương, các Uỷ ban hành chính khu, thành phố trực thuộc Trung ương, tỉnh và các cơ quan lãnh đạo của các đoàn thể nhân dân có trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện chế độ giữ gìn bí mật của Nhà nước trong các cơ quan, đơn vị thuộc ngành mình, địa phương mình.
- 12- Cơ quan Công an các cấp có trách nhiệm giúp đỡ, hướng dẫn việc xây dựng chế độ, nội quy và tổ chức giữ gìn bí mật của Nhà nước trong các cơ quan, đơn vị thuộc các ngành, các cấp tương đương và có nhiệm vụ kiểm tra việc giữ gìn bí mật của Nhà nước trong các cơ quan, đơn vị thuộc các ngành, các cấp ấy.
- 13- Trong khi chờ đợi việc tổ chức một hệ thống để chuyển các công văn, tài liệu "Tối mật" và "Tuyệt mật" nói ở Điều 4 trên đây. Tổng cục bưu điện có trách nhiệm chấn chỉnh đường dây bưu chính đặc biệt chuyển các công văn tài liệu bí mật từ cơ quan này đến cơ quan khác, từ địa phương này đến địa phương khác, đảm bảo không để mất tài liệu, không để tiết lộ bí mật.
- 14- Ông Bộ trưởng Phủ Thủ tướng có trách nhiệm quy định chế độ chung về hồ sơ, lưu trữ, bảo quản tài liệu trong các cơ quan Nhà nước.
Thông tư số 67-TTg ngày 20/06/1962 Thi hành Nghị định 69/CP 1962 quy định biện pháp, tổ chức giữ gìn bí mật của Nhà nước do Thủ tướng Chính ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 67-TTg
- Loại văn bản: Thông tư
- Cơ quan ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Ngày ban hành: 20-06-1962
- Ngày có hiệu lực: 05-07-1962
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh