- THÔNG TƯ VỀ VIỆC BAN HÀNH ĐIỀU LỆ MẪU HỢP TÁC XÃ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP BẬC THẤP
- I. NHỮNG ĐIỀU CẦN CHÚ Ý TRONG VIỆC HƯỚNG DẪN CÁC HỢP TÁC XÃ XÂY DỰNG ĐIỀU LỆ
- II. XÉT DUYỆT ĐIỀU LỆ VÀ BỔ SUNG CÁC QUY ĐỊNH KHÁC
- ĐIỀU LỆ MẪU HỢP TÁC XÃ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP BẬC THẤP
- Chương 1: MỤC ĐÍCH, NGUYÊN TẮC, NHIỆM VỤ
- Điều 1. – Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp là tổ chức kinh tế tập thể có tính chất nửa xã hội chủ nghĩa, do nông dân lao động tự nguyện lập ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, nhằm đẩy mạnh một bước sản xuất nông nghiệp, dần dần xóa bỏ bốc lột, nâng cao đời sống ở nông thôn, góp phần đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà.
- Điều 2. – Hợp tác xã được xây dựng theo 3 nguyên tắc : tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ.
- Điều 3. - Nhiệm vụ của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp là:
- Chương 2: XÃ VIÊN
- Điều 4. - Tất cả nam, nữ nông dân lao động và những người lao động khác ở nông thôn, từ 16 tuổi trở lên, bất kỳ thuộc dân tộc nào hoặc tôn giáo nào, không phân biệt người địa phương hoặc người nơi khác đến, nếu tư nguyện xin vào hợp tác xã, công nhận điều lệ hợp tác xã được Đại hội xã viên hoặc Đại hội đại biểu xã viên đồng ý thì được nhận là xã viên.
- Điều 5. – Hợp tác xã không kết nạp những người thuộc thành phần bóc lột.
- Điều 6. – Xã viên có những nghĩa vụ và quyền lợi như sau:
- Điều 7. – Xã viên có quyền ra khỏi hợp tác xã, nhưng phải báo trước và đợi đến cuối vụ sản xuất hợp tác xã.
- Điều 8. – Xã viên nào làm trái điều lệ của hợp tác xã một cách nghiêm trọng, phạm nhiều sai lầm lớn, hoặc phạm pháp luật Nhà nước và bị mất quyền công dân, thì phải khai trừ ra khỏi hợp tác xã. Khi khai trừ một xã viên, không được khai trừ cả những xã viên khác trong gia đình họ. Người bị khai trừ vẫn có thể được tham gia lao động trong hợp tác xã. Trong trường hợp người ấy ra sản xuất riêng, hợp tác xã sẽ giải quyết tài sản của họ như đối với người ra hợp tác xã.
- Chương 3: RUỘNG ĐẤT, TRÂU BÒ, NÔNG CỤ
- Điều 9. – Ruộng đất của xã viên phải giao cho hợp tác xã thống nhất sử dụng, nhưng để chiếu cố nhu cầu sinh hoạt riêng của xã viên như để cho xã viên trồng rau, trồng hoa quả, trồng chàm, v.v… ngoài đất làm nền nhà, sân, chuồng trâu, chuồng lợn, đống rơm, cần để lại cho mỗi gia đình xã viên một ít đất, theo mức mỗi nhân khẩu không quá 5% diện tích bình quân của một nhân khẩu trong xã. Riêng đối với miền núi, đất để lại cho xã viên có thể nhiều hơn, miễn là không ảnh hưởng đến việc quản lý lao động của hợp tác xã. Nơi nào, xã viên dân tộc thiểu số yêu cầu để lại một ít ruộng đất để tự tay họ trồng cấy lấy lúa gạo dùng vào việc thờ cúng, thì cũng cần chiếu cố.
- Điều 10. – Hàng năm hợp tác xã phải trích từ 25% đến 30% sản lượng thường niên bình nghị khi vào hợp tác xã để trả cho phần ruộng đất của xã viên đưa vào hợp tác xã, kể cả ruộng đất tạm cấp, tạm giao và ruộng khai hoang.
- Điều 11. – Ruộng đất của đồng bào là nhân dân lao động bị cưỡng ép di cư vào Nam, nay đưa vào hợp tác xã thì quyền sở hữu ruộng đất ấy vẫn thuộc về đồng bào đi Nam, hợp tác xã chỉ được sử dụng, khi nào đồng bào về sẽ trả lại. Những người đang cày cấy ruộng đất ấy nay vào hợp tác xã, nếu những người đó là cha mẹ vợ con, anh em, chú bác ruột của người đi Nam, hoặc là những bần nông và trung nông lớp dưới chủ yếu phải sống nhờ vào ruộng đất ấy thì được hưởng tỷ lệ hoa lợi chia cho ruộng đất ấy, như ruộng đất ấy là của mình. Những người khác làm ruộng đất ấy thì chỉ được hưởng một phần hoa lợi thấp hơn, do hợp tác xã bàn bạc với họ mà định.
- Điều 12. – Ruộng đất tôn giáo trong cải cách ruộng đất để lại cho Nhà chùa, Nhà chung thì nay vẫn để Nhà chùa, Nhà chung sử dụng như cũ. Trong trường hợp Nhà chùa, Nhà chung muốn gửi ruộng đất đó vào đó vào hợp tác xã thì hợp tác xã có thể nhận làm và trích cho Nhà chùa, Nhà chung một phần hoa lợi ruộng đất. Tỷ lệ hoa lợi đó để bao nhiêu do hợp tác xã bàn bạc với quần chúng tôn giáo mà quyết định.
- Điều 13. – Khi tập thể tổ viên tổ đổi công gia nhập hợp tác xã, những ruộng đất do tổ vỡ hoang cũng đưa vào hợp tác xã để thống nhất kinh doanh và hợp tác xã không phải trả hoa lợi cho ruộng đất đó. Nếu ruộng đất của tổ đổi công mới khai phá chưa được thu lợi, thì hợp tác xã có thể tính cho các tổ viên gia nhập hợp tác xã một số ngày công. Những tổ viên nào không vào hợp tác xã thì được trả công khai phá, hoặc nếu người ấy thiếu ruộng đất thì có thể để lại cho họ một phần ruộng đất đã khai phá.
- Điều 14. – Những công trình thủy lợi của xã viên đi liền với ruộng đất đưa vào hợp tác xã như ao, giếng, đập, mương v.v… thì do hợp tác xã trông nom, sửa chữa. Nếu những công trình thủy lợi ấy mới xây dựng, người có công làm chưa thu được một số lợi thích đáng, thì hợp tác xã sẽ định thời hạn hai, ba năm trả cho người ấy một số tiền phí tổn phải chăng.
- Điều 15. – Trâu bò cày, kéo của xã viên, hợp tác xã thuê dùng và chăn nuôi, hoặc hợp tác xã thuê dùng nhưng việc chăn nuôi do người có trâu bò đảm nhiệm. Trong khi sử dụng, trâu bò đang khỏe nếu vì bắt làm quá sức mà bị tàn tật hoặc chết thì hợp tác xã phải bồi thường. Trong trường hợp hợp tác xã có khả năng về tài chính, có điều kiện chăn nuôi và xã viên thật sự yêu cầu thì có thể mua lại trâu bò đó làm của chung và trả dần trong thời hạn 3 đến 5 năm. Trong lúc hợp tác xã chưa trả đủ số tiền đó thì phải trả lãi cho số tiền còn thiếu; mức lãi do hai bên bàn định, nhưng không được cao hơn mức lãi của tiền gửi vào hợp tác xã vay mượn.
- Điều 16. - Về những nông cụ loại lớn (như cày, bừa, guồng nước, máy tuốt lúa, v.v…), những phương tiện vận tải (như xe, thuyền, v.v…) và những dụng cụ lớn thuộc các nghề khác ngoài nghề nông, thì hợp tác xã thuê dùng. Giá thuê căn cứ vào giá trị thực tế từng loại và thời gian những thứ đó đã được sử dụng lâu hay chóng mà định. Khi thuê dùng, nếu hỏng thì hợp tác xã sửa chữa; nếu không sửa chữa được thì bồi thường. Nếu cần đến luôn thì hợp tác xã có thể mua lại và trả dần như đổi với trâu bò.
- Chương 4: CỔ PHẦN
- Điều 17. – Trong hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp, xã viên phải góp cổ phần sản xuất để chi phí về sản xuất, như mua hạt giống, phân bón, sửa chữa nông cụ v.v… Còn để mua sắm các tư liệu sản xuất như trâu bò, nông cụ v.v… để làm của chung thì xã viên phải đóng cổ phần công hữu hóa.
- Điều 18. - Cổ phần sản xuất và cổ phần công hữu hóa của xã viên đã góp chỉ được rút ra khi xã viên ra hợp tác xã.
- Điều 19. – Khi tập thể tổ viên tổ đổi công vào hợp tác xã và chuyển tài sản chung của họ thành tài sản chung của hợp tác xã thì những tổ viên đó được tính trừ số tiền về tài sản chung của họ vào số tiền mà họ phải họ phải góp cổ phần cho hợp tác xã, thiếu thì họ phải góp thêm, thừa thì có thể bỏ vào làm của chung của hợp tác xã xã viên nếu được các tổ viên tổ đổi công đồng ý.
- Điều 20. – Khi hợp tác xã cần thêm vốn để sản xuất thì các xã viên tùy theo khả năng mà cho hợp tác xã vay và được trả lãi hàng năm bằng mức lãi tiền gửi vào hợp tác xã vay mượn. Trong vòng từ 1 đến 3 năm, hợp tác xã phải hoàn lại đủ số vốn đó.
- Chương 5: SẢN XUẤT
- Điều 21. – Bí quyết thành công của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp là: trên cơ sở lao động tập thể và cải tiến kỹ thuật mà không ngừng tăng năng suất, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho xã viên, tăng tích lũy vốn cho hợp tác xã, không ngừng phát huy tính hơn hẳn của hợp tác xã đối với nền kinh tế cá thể; vấn đề then chốt nhất là tăng năng suất, tăng thu nhập. Để thực hiện điều đó, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp phải có kế hoạch thực hiện kinh doanh sản xuất nhiều mặt, nhằm tận dụng hợp lý sức lao động của xã viên, đẩy mạnh phát triển sản xuất, tăng thêm công việc làm, nâng cao thu nhập của hợp tác xã và của mỗi xã viên. Vì vậy, đi đôi với việc trồng trọt (lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả), mỗi hợp tác xã phải căn cứ vào điều kiện kinh tế của địa phương và khả năng của mình mà tổ chức kinh doanh nhiều nghề khác như chăn nuôi gia súc, nuôi cá, đánh cá, trồng cây gây rừng, khai thác lâm sản, làm một ít cơ sở công nghiệp nhỏ, tổ chức và hướng dẫn nghề phụ gia đình v.v…
- Điều 22. - Để tăng năng suất và tăng sản lượng nông nghiệp, hợp tác xã cần chú trọng rất nhiều đến việc cải tiến và áp dụng những biện pháp kỹ thuật như sau:
- Điều 23. – Hàng năm, vào cuối mùa thu, hợp tác xã cần rút kinh nghiệm sản xuất đã qua và căn cứ theo yêu cầu của nhiệm vụ mới mà đặc kế hoạch sản xuất cho năm sau. Nội dung kế hoạch phải bao gồm mọi mặt: mức sản lượng chung và mức sản lượng cho từng loại sản phẩm, biện pháp kỹ thuật, kế hoạch sử dụng nhân lực và trâu bò, nông cụ, kế hoạch cung cấp tư liệu sản xuất, kế hoạch tiêu thụ, chế biến sản phẩm, kế hoạch xây dựng cơ bản v.v… Trong từng thời gian ngắn (từng vụ, từng tháng) hợp tác xã lại phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất cả năm để vạch kế hoạch thực hiện cụ thể. Ngoài ra, tùy theo điều kiện, có thể đặt kế hoạch dài hạn của hợp tác xã ăn khớp với thời hạn của kế hoạch Nhà nước.
- Chương 6: TỔ CHỨC LAO ĐỘNG, KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ TÍNH CÔNG LAO ĐỘNG
- Điều 24. - Trừ các hợp tác xã nhỏ khoảng từ 15 hộ trở xuống, còn các hợp tác xã có khoảng từ 15 hộ trở lên thì tùy từng hợp tác xã mà chia xã viên ra thành những đội hoặc tổ sản xuất cố định, giao cho những ruộng đất, trâu bò, nông cụ nhất định, gioa cho những r, trâu bò, nông cụ nhất định để cho các đội, tổ đó theo kế hoạch chung của hợp tác xã mà tự sắp xếp công việc sản xuất. Để lợi cho sản xuất, khi chia các đội hoặc các tổ, không nên chênh lệch nhau nhiều về số người nhiều ít, khỏe yếu, chỗ ở xa gần và trình độ kỹ thuật, năng lực lãnh đạo của cán bộ. Khi cần thiết các đội hoặc tổ có thể chia ra các nhóm sản xuất tạm thời.
- Điều 25. - Để đảm bảo thực hiện kế hoạch sản xuất của hợp tác xã, các xã viên phải giữ đúng kỷ luật lao động như sau:
- Điều 26. – Nguyên tắc tính công trong hợp tác xã là : làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. Để thực hiện nguyên tắc đó, hợp tác xã phải định rõ mức lao động cho từng công việc và tiêu chuẩn tính công cho các thứ công việc.
- Điều 27. – Những cán bộ của hợp tác xã như chủ nhiệm người kế toán, v.v… vì bận công việc chung của hợp tác xã, không thể tham gia lao động được nhiều, thì hàng năm Đại hội xã viên căn cứ vào điều kiện công tác của từng người mà ấn định cho họ một số ngày công tối thiểu phải làm và phụ cấp cho họ một số ngày công nhất định, đảm bảo tổng số ngày công của họ ngang với số ngày công của một xã viên trung bình. Ngoài việc khen thưởng các xã viên, mỗi khi tổng kết cuối năm, hợp tác xã còn có thể căn cứ vào việc thực hiện kế hoạch (vượt mức kế hoạch nhiều hay ít) mà thưởng cho cán bộ lãnh đạo hợp tác xã.
- Điều 28. – Những gia đình liệt sĩ, gia đình thương binh, bệnh binh, gia đình bộ đội thiếu sức lao động, cần được hợp tác xã bố trí công việc hợp lý và được tính những ngày công do xã viên hoặc người ngoài làm giúp vào công điểm của nhà mình, cộng cả số ngày công mình tự làm và những ngày công làm giúp có thể bằng số ngày công của một hộ xã viên lao động trung bình, có nhân khẩu tương đương hợp tác xã. Điều này cũng có thể áp dụng với gia đình cán bộ xã như bí thư chi bộ, chủ tịch xã bận nhiều công tác chung mà nhà lại neo đơn.
- Chương 7: QUẢN LÝ TÀI HÍNH VÀ PHÂN PHỐI HOA LỢI
- Điều 29. – Khi đặt kế hoạch sản xuất hàng năm, Ban quản trị hợp tác xã phải đồng thời lập dự toán thu chi cả năm của hợp tác xã. Dự toán thu chi gồm có nguồn vốn, kế hoạch dùng vốn trong cả năm, dự tính giá trị tổng hợp sản lượng trong cả năm về sản xuất nông nghiệp và nghề khác và dự tính việc phân phối.
- Điều 30. – Hợp tác xã phải xây dựng chế độ tài chính chặt chẽ trên tinh thần tiết kiệm, tránh lãng phí, tham ô. Phải cử người phụ trách kế toán riêng, thu quỹ riêng, không được để một người kiêm cả hai việc và phải cử người chuyên trách bảo quản tài sản của hợp tác xã.
- Điều 31. – Những thứ thu hoạch, trước khi chia chính thức vào dịp cuối năm và sau khi đã dành đủ số cần thiết để chi dùng chung, hợp tác xã nên tạm trả một phần hoa lợi ruộng đất và căn cứ vào số ngày công của mỗi xã viên mà tạm chia một phần cho họ.
- Điều 32. - Quỹ tích lũy dùng vào việc mua súc vật, sắm nông cụ và xây dựng cơ bản, như làm kho tàng, xây dựng công trình thủy lợi, vỡ hoang, trồng cây gây rừng, đào ao thả cá v.v… và có thể bỏ thêm vào chi phí sản xuất khi thật cần thiết. Lúc đầu quỹ này cần để 5% số thu hoạch thực tế hàng năm (tức là tổng số thu hoạch trừ chi phí sản xuất); khi nào sản xuất của hợp tác xã đã phát triển thì có thể tăng dần lên đến 10%. Các hợp tác xã có những nguồn lợi lớn, thu nhập nhiều thì lúc có thể trích bỏ vào quỹ tích lũy nhiều hơn 5% một ít.
- Chương 8: CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ VÀ TƯ TƯỞNG, CÔNG TÁC VĂN HÓA VÀ XÃ HỘI
- Điều 33. – Công tác chính trị và tư tưởng có tính chất quyết định rất lớn trong việc củng cố và phát triển hợp tác xã. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp phải thường xuyên tiến hành giáo dục xã viên theo nội dung như sau:
- Điều 34. – Công tác văn hóa và xã hội là một bộ phận quan trọng trong việc nâng cao đời sống của xã viên, cho nên cần phải được chú ý rất nhiều. Những công tác văn hóa, xã hội trong hợp tác xã gồm có:
- Chương 9: CƠ QUAN QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ
- Điều 35. – Cơ quan cao nhất của hợp tác xã là Đại hội xã viên có quyền hạn và nhiệm vụ như sau:
- Điều 36. – Ban quản trị có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
- Điều 37. – Ban kiểm soát có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
- Điều 38. - Chủ nhiệm hợp tác xã, Trưởng ban kiểm soát, Ban quản trị và Ban kiểm soát mỗi năm bầu lại một lần, những người cũ có thể được bầu lại. Ban quản trị nên bầu từ 5 đến 15 người, Ban kiểm soát bầu từ 3 đến 5 người.
- Chương 10: ĐIỀU KHOẢN PHỤ
- Điều 39. - Điều lệ mẫu này dùng chung cho các địa phương. Các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp dựa theo điều lệ này mà xây dựng điều lệ của mình và báo cáo với Ủy ban Hành chính huyện, châu, quận, thị xã chứng nhận và xét duyệt.
Thông tư số 449-TTg ngày 17/12/1959 Ban hành điều lệ mẫu hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp do Phủ Thủ Tướng ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 449-TTg
- Loại văn bản: Thông tư
- Cơ quan ban hành: Phủ Thủ tướng
- Ngày ban hành: 17-12-1959
- Ngày có hiệu lực: 01-01-1960
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Thông tư số 449-TTg ngày 17/12/1959 Ban hành điều lệ mẫu hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp do Phủ Thủ Tướng ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh