- THÔNG TƯ NÓI RÕ THÊM MỘT SỐ ĐIỂM VỀ CHẾ ĐỘ NỬA CUNG CẤP
- 1. Đối với cán bộ có tiêu chuẩn nhà ở tối đa 100, 75, 30 m2 nếu có cha mẹ, vợ hay chồng, con không phân biệt là cán bộ, nhân viên hay không mà cũng ở chung nhà ấy và sử dụng nhà, điện trong phạm vi mức tối đa đã quy định thì những người trong gia đình không phải trả tiền nhà và điện. Về nước, mỗi người trong gia đình trả một tháng 100 đồng.
- 2. Các cán bộ từ Chánh phó giám đốc các cơ quan trung ương và các chức vụ cùng hưởng một tiêu chuẩn nhà ở tối đa 30m2 không có tiêu chuẩn người phục vụ (như cần vụ trước đây).
- 3. Tiêu chuẩn nhà ở của cán bộ, cộng nhân, nhân viên trong biên chế ở nhà tập thể của cơ quan mỗi người là 3m25; chỗ để bàn, ghế trong 1 buồng tập thể (tức là buồng nhiều người ở tập thể) cũng bao gồm trong số 3m25 đó.
- 4. Để tiện lợi cho việc sinh hoạt của cán bộ, công nhân, nhân viên trong trường hợp thật cần thiết như có con nhỏ trong một buồng cần 2 ngọn đèn và khi dùng thường dùng 1 ngọn (tắt ngọn này, mở ngọn kia) thì chỉ thu tiền 1 ngọn đèn chính, không thu cả hai ngọn. Về giây, bóng đèn và tổn phí mắc ngọn đèn phụ thì do cán bộ, nhân viên ấy tự do. Cơ quan nên nhắc nhở anh, chị em sử dụng với tinh thần tiết kiệm.
- 5. Đối với một số cán bộ, công nhân, nhân viên thường đi công tác lưu động thì cơ quan sẽ xét cụ thể, nếu đi vắng từ 2 tháng trở lên thì tuy phải dành chỗ ở nhưng không thu tiền về nhà ở, điện, nước trong những tháng đi vắng.
- 6. Về việc thu tiền nhà ở, điện, nước của những người không được tăng thu nhập và những người được tăng không bằng số tiền phải trả nói ở điều 3, điều 4, mục B trong Thông tư số 84-TT/NV của Bộ Nội vụ ngày 24-12-1958, xin nói rõ thêm:
- 7. Tiêu chuẩn sử dụng nhà ở, điện, nước chỉ áp dụng đối với người ở trong biên chế, không áp dụng đối với những người phù động, tạm tuyển. Riêng đối với người phù động, tạm tuyển tuy chưa được đưa vào biên chế nhưng đã làm việc lâu dài, thường xuyên như người trong biên chế, đã và đang sử dụng nhà ở, điện, nước trong cơ quan thì cách thu tiền được tạm áp dụng như cán bộ, công nhân, nhân viên trong biên chế.
- 8. Việc bỏ khoản dầu thắp cho cá nhân áp dụng từ 1-2-1959, còn số dầu thắp cán bộ, công nhân, nhân viên đã sử dụng từ tháng 5-1959 đến 31-1-1959 thì không phải trả tiền.
- 9. Đối với cán bộ, công nhân, nhân viên làm công tác có trụ sở ở các xã rẻo cao, ở các đồn, trạm biên phòng miền núi mà nhà ở do anh em góp sức xây dựng, hoặc tuy có trụ sở nhưng vì công tác phải lưu động thường xuyên thì được miễn trả tiền nhà.
- 10. Đối với cán bộ, công nhân, nhân viên ở Hà Nội trước đây không ở nhà của cơ quan đã được cấp 2.500đ hay 4.500đ tiền ra ăn ở ngoài, khi thi lương 1958, thu nhập cũ cao hơn thu nhập mới, thì được cộng khoản tiền đó vào thu nhập cũ để tính bảo lưu. Nhưng nếu sau khi thi hành lương 1958, thu nhập cũ cao hơn thu nhập mới, thì được cộng khoản tiền đó vào thu nhập để tính bảo lưu. Nhưng nếu sau khi thi hành lương 1959 cán bộ, công nhân, nhân viên ấy trở lại ở nhà của cơ quan hay được điều động hẳn về địa phương thì phải trừ khoản 2.500đ hay 4.500đ đó trong thu nhập cũ và tính lại chênh lệch.
Thông tư số 10-NV/CB ngày 20/02/1959 Về nói rõ thêm một số điểm về chế độ nửa cung cấp (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 10-NV/CB
- Loại văn bản: Thông tư
- Cơ quan ban hành: Bộ Nội vụ
- Ngày ban hành: 20-02-1959
- Ngày có hiệu lực: 07-03-1959
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh