- THÔNG TƯ LIÊN NGÀNH HƯỚNG DẪN GIẢI QUYẾT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẤP BÁCH VỀ TÍN DỤNG
- 1. Theo tinh thần của Chỉ thị số 313-CT ngày 1-9-1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về xử lý tình hình khó khăn của các tổ chức tín dụng ngoài ngân hàng hiện nay thì Ủy ban nhân dân cấp huyện phải thành lập Ban xử lý do Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân làm trưởng ban; đại diện các ngành Công an, Tài chính, Ngân hàng, Thanh tra, Kiểm sát, Tòa án, Trọng tài kinh tế và một số đại diện cổ đông, đại diện gửi tiền, một thành viên Ban quản trị làm thành viên. Ban xử lý có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát tổ chức tín dụng này thực hiện các chủ trương, biện pháp về thu nợ trả tiền gửi, kê biên và phong tỏa tài sản thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng và của cá nhân thành viên Hội đồng quản trị, Ban điều hành và những người có liên quan. Ban xử lý của Ủy ban nhân dân có trách nhiệm giải quyết trước các vấn đề về tín dụng. Nếu các đương sự không đồng ý với biện pháp giải quyết của Ban xử lý thì tùy trường hợp cụ thể mà yêu cầu của đương sự được chuyển giao cho cơ quan Trọng tài kinh tế, cơ quan điều tr
- 2. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân và Trọng tài kinh tế.
- 3. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện.
- 4. Về tội danh
- 5. Về lãi suất tiền gửi, tiền cho vay
- 6. Các thành viên Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Ban chủ nhiệm tổ chức tín dụng phải chịu trách nhiệm chính trước người gửi tiền và trước pháp luật về tài sản của tổ chức tín dụng. Những người này nếu không phạm các tội như đã nêu ở điểm 4 Thông tư này thì cũng phải tham gia trực tiếp với việc đi đòi nợ để lấy tiền trả cho người gửi. Nếu họ trốn tránh trách nhiệm, không chịu đi đòi nợ v.v… thì cần truy cứu trách nhiệm hình sự họ về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa theo Điều 139 Bộ luật hình sự. Khi nhận được yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc của cơ quan thanh tra cấp huyện thì cơ quan Công an áp dụng ngay biện pháp tạm giữ những người đó. Tuy nhiên, trong khi tạm giữ, tạm giam họ, vẫn có thể cho phép họ được đến trụ sở tổ chức tín dụng để tính toán sổ sách, cho họ được đi thu nợ hoặc buộc họ phải đi đòi nợ dưới sự quản lý của cảnh sát, sự giám sát của Ủy ban nhân dân hoặc Ban xử lý, sau đó đưa họ vào nơi tạm giữ, tạm giam.
- 7. Đối với những người vay tiền với số lượng lớn đã quá hạn, những người cố tình chây ỳ, trốn tránh không trả nợ mặc dù đã được thông báo, nhắc nhở nhiều lần v.v… thì cơ quan điều tra phải tạm giữ họ. Nếu trong thời gian bị tạm giữ mà họ trả được nợ hoặc có người trả nợ thay cho họ hay có người dùng tài sản mình có giá trị tương đương với số tiền còn nợ làm vật bảo đảm cho việc trả nợ của họ, thì trả tự do cho họ.
- 8. Khi có yêu cầu gia hạn tạm giữ của cơ quan Công an, Viện kiểm sát cần nhanh chóng phê chuẩn. Nếu hết thời gian tạm giữ mà người bị tạm giữ không trả được nợ, thì cơ quan điều tra khởi tố người phạm pháp và áp dụng biện pháp tạm giam theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật tố tụng hình sự. Người bảo lĩnh cho người bị tạm giữ, tạm giam có trách nhiệm trả nợ thay cho người đó. Nếu người bảo lĩnh không trả nợ để cho người bị tạm giữ, tạm giam trốn đi nơi khác thì có thể bị cưỡng chế trả nợ. Đối với những người bị tạm giữ, tạm giam phải có biện pháp đấu tranh kiên quyết để truy thu tài sản, để buộc họ phải trả nợ, thuyết phục, giáo dục những người thân thích của họ có trách nhiệm giúp đỡ họ trả nợ. Cần đề phòng trường hợp những kẻ lợi dụng việc tạm giữ, tạm giam để trốn tránh sự phản ứng của những người gửi tiền, trốn tránh trách nhiệm trả nợ.
- 9. Các cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Trọng tài kinh tế, Tư pháp, Ngân hàng phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân các cấp, các tổ chức xã hội, người có tiền gửi và với quần chúng nhân dân để truy tìm những tài sản mà các thành viên tổ chức tín dụng và những người vay nợ đã tẩu tán, giấu diếm hoặc chuyển dịch cho người khác một cách bất hợp pháp. Trong thời gian kể từ ngày thành lập tổ chức tín dụng nếu các thành viên Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Ban chủ nhiệm tổ chức tín dụng đã chuyển dịch tài sản cho bố mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em…dưới mọi hình thức v.v… mặc dù có giấy chứng nhận chuyển quyền sở hữu hợp pháp của cơ quan Nhà nước, thì tài sản đó vẫn bị kê biên để xử lý. Trong trường hợp này người được người có tài sản bị kê biên cho, tặng tiền, tài sản và nhờ số tiền, tài sản đó mà mua sắm được các tài sản có giá trị, làm được nhà v.v… phải trả lại số tiền, tài sản đã nhận.
- 10. Việc kê biên tài sản là một biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn người có trách nhiệm trả tiền, người vay tiền hoặc những người khác phân tán, giấu diếm tài sản, nhằm bảo đảm cho việc thanh toán nợ, cho nên cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Trọng tài kinh tế cần phải kịp thời, kiên quyết kê biên tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của họ và phần tài sản của họ trong khối tài sản chung với người khác, tài sản của họ đang do người khác giữ…
- 11. Khi xử lý nhà bị kê biên cần chú ý những điểm sau:
- 12. Đối với các cổ đông đã rút hết cổ phần và tiền lãi với mức lãi suất cao thì kiên quyết thu lại số tiền chênh lệch giữa mức lại suất của tổ chức tín dụng với mức lãi suất tiết kiệm của Ngân hàng theo từng thời kỳ. Nếu họ còn được nhận tiền dưới hình thức phân phối thu nhập thì họ cũng phải nộp lại để trả cho người gửi.
- 13. Khi giải quyết các việc về tín dụng, cần giải quyết luôn cả vấn đề thế chấp, cầm cố tài sản căn cứ vào hợp đồng thế chấp, cầm cố tài sản đó.
Thông tư liên ngành số 10/TTLN ngày 25/10/1990 Giải quyết một số vấn đề cấp bách về tín dụng do Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao và Trọng tài kinh tế Nhà nước ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 10/TTLN
- Loại văn bản: Thông tư liên tịch
- Cơ quan ban hành: Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Trọng tài kinh tế Nhà nước
- Ngày ban hành: 25-10-1990
- Ngày có hiệu lực: 09-11-1990
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Thông tư liên ngành số 10/TTLN ngày 25/10/1990 Giải quyết một số vấn đề cấp bách về tín dụng do Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao và Trọng tài kinh tế Nhà nước ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết (1)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh