Công văn số 2607/NHNN-PC ngày 15/04/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam V/v Các nhà đầu tư/doanh nghiệp không có chức năng tín dụng thực hiện cho vay và tính lãi suất như một tổ chức tín dụng (Tình trạng hiệu lực Không xác định)
- Số hiệu văn bản: 2607/NHNN-PC
- Loại văn bản: Công văn
- Cơ quan ban hành: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Ngày ban hành: 15-04-2013
- Ngày có hiệu lực: 15-04-2013
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
|
NGÂN HÀNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 2607/NHNN-PC V/v Các nhà đầu tư/doanh nghiệp không có chức năng tín dụng thực hiện cho vay và tính lãi suất như một tổ chức tín dụng |
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2013 |
Kính gửi: Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
Phúc đáp Công văn số 960/UBND-ĐT ngày 28/02/2013 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hướng dẫn pháp lý về việc các nhà đầu tư/doanh nghiệp không có chức năng tín dụng thực hiện cho vay và tính lãi suất như một tổ chức tín dụng, sau khi nghiên cứu, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý kiến như sau:
- Khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoat động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vĩ mô và quỹ tín dụng nhân dân”.
- Khoản 12 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”,
- Khoản 16 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả và gốc và lãi”.
- Khoản 2 Điều 8 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định “Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán chứng khoán của công ty chứng khoán “,
- Khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
- Điều 471 Bộ Luật dân sự 2005 quy định “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Như vậy, căn cứ các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, trong trường hợp các nhà đầu tư/doanh nghiệp không có chức năng tín dụng cho doanh nghiệp do mình tham gia đầu tư hoặc doanh nghiệp khác vay và tính lãi suất như một hoạt động kinh doanh mang tính thường xuyên là trái với quy định tại Khoản 2 Điều 8 Luật các tổ chức tín dụng 2010. Theo quy định của pháp luật ngân hàng, hành vi này sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 8 Mục 1 Chương II Nghị định 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12/2004 của Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt dđộng ngân hàng: “3. Phạt tiền từ 45.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau: a. Hoạt động ngân hàng không có giấy phép”.
Tuy nhiên, trong trường hợp các nhà đầu tư/doanh nghiệp thực hiện hoạt động cho vay tài sản không phải là hoạt động kinh doanh, cung ứng thường xuyên, theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 và Điều 471 Bộ Luật dân sự 2005 thì hoạt động này không chịu sự điều chỉnh của pháp luật ngân hàng.
Trên đây là ý kiên của Ngân hàng Nhà nước việt Nam.
|
Nơi nhận: - Như trên; |
THỐNG ĐỐC |
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Tiếng anh