MỚI Ra mắt Giao diện mới cho trang Tra cứu mã HS – nhanh và thuận tiện Trải nghiệm ngay
Mới cập nhật
27/06/2017

Phân biệt HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ và HỢP ĐỒNG MUA BÁN qua Bản án 16/2012/KDTM-ST về Tranh chấp hợp đồng mua bán dược phẩm

Tác giả: CaselawVN

Xem nội dung vụ việc tại: https://caselaw.vn/ban-an/sPen9YHYLg-

  • Vụ việc, Vụ án: Tranh chấp hợp đồng mua bán dược phẩm
  • Loại bản án: Sơ thẩm
  • Cơ quan xét xử: TAND cấp huyện
  • Số hiệu: 16/2012/KDTM-ST
  • Ngày tuyên án: 27-06-2012
  • Ngày thụ lý: 17/08/2011
  • Kết quả vụ việc: Không chấp nhận toàn bộ

-----------------------------------------------------------------

Mô tả tóm lược:

Từ năm 2007, NĐ_Công ty TNHH dược phẩm Shahering Việt Nam và BĐ_Công ty TNHH dược phẩm Tâm Phúc có ký kết hợp đồng mua bán với nhau, hợp đồng ký một lần vàđược sử dụng trong cả năm. Mặt hàng mà hai bên mua bán là các mặt hàng dược phẩm do nhà máy dược phẩm Shahering Việt Nam sản xuất.

Theo Nguyên đơn, hợp đồng giữa 2 công ty là hợp đồng mua bán thông thường chứ không phải hợp đồng đại lýđộc quyền, không thể hiện thù lao đại lý mà BĐ_Công ty Tâm Phúc được hưởng. Các giao dịch giữa các bên từ năm 2001 đến năm 2011 là giao dịch mua bán thông thường, hợp đồng được ký cho cả năm và cứ như thế mà thực hiện, qua đó NĐ_Công ty TNHH dược phẩm Shahering cung cấp thuốc và bán cho BĐ_Công ty Tâm Phúc

Tháng 3/2011, do phát hiện Tổng giám đốc NĐ_Công ty TNHH dược phẩm Shahering (ông Seoun Tai Bai) có nhiều sai phạm trong quản lý nên đã điều động ông Seoun Tai Bai về nước. Trong thời gian ông Seoun Tai Bai làm Tổng giám đốc, ông này cũng đồng thời làm giám đốc tài chính của BĐ_Công ty Tâm Phúc, mọi giao dịch tài chính của BĐ_Công ty Tâm Phúc đều do ông Seoun Tai Bai quyết định và ký trên mọi chứng từ ngân hàng. Vì là người điều hành cả hai công ty, ông Seoun Tai Bai đưa ra giá bán cho BĐ_Công ty Tâm Phúc thấp, sau đó BĐ_Công ty Tâm Phúc bán lại cho khách hàng với giá cao hơn gấp nhiều lần. Khoản lợi nhuận của BĐ_Công ty Tâm Phúc sau đóđược biến hóa thành các chi phí hợp lýđể trốn thuế.

Về hoa hồng đại lý từ năm 2003 đến năm 2011: Giữa NĐ_Công ty TNHH dược phẩm Shahering và BĐ_Công ty Tâm Phúc ký hợp đồng mua bán cho mỗi năm. Trong các hợp đồng này không hề đề cập BĐ_Công ty Tâm Phúc làđại lýđộc quyền cũng như thù lao đại lý. Quan hệ giữa hai bên là quan hệ mua bán thông thường, NĐ_Shahering bán hàng cho BĐ_Công ty Tâm Phúc theo giá nhất định. BĐ_Công ty Tâm Phúc tự đưa mức giá phân phối đến các khách hàng khác nhau. Đến hạn BĐ_Công ty Tâm Phúc thanh toán nợ cho NĐ_Shahering. Riêng đối với hợp đồng năm 2011 thì Tổng giám đốc cũ không bàn giao bất kỳ một hợp đồng hay thỏa thuận nào còn hiệu lực hay được ký kết giữa hai bên trong năm 2011.

Ý kiến của Bị đơn:

Quan hệ giao dịch giữa Công ty CP dược phẩm BĐ_Công ty Tâm Phúc và NĐ_Công ty TNHH dược phẩm Shahering bắt đầu từ năm 2001 và kéo dài cho đến khi NĐ_Shahering chấm dứt hợp đồng đại lý với BĐ_Công ty Tâm Phúc vào tháng 4/2011. Trong quan hệ giữa BĐ_Công ty Tâm Phúc và NĐ_Shahering từ năm 2001 đến năm 2011 trên thực tế BĐ_Công ty Tâm Phúc là nhà phân phối độc quyền và duy nhất đối với tất cả các sản phẩm dược phẩm mà NĐ_Shahering sản xuất, vì vậy đây thực chất là mối quan hệ đại lý và nhà sản xuất.

BĐ_Công ty Tâm Phúc bán lại với giá cao gấp nhiều lần và trong hợp đồng không có nội dung thể hiện thù lao đại lý mà BĐ_Công ty Tâm Phúc được hưởng. Ngược lại theo bị đơn dù hàng năm các bên ký với nhau với hình thức hợp đồng mua bán nhưng thực chất đây là hình thức hợp đồng đại lý. NĐ_Công ty TNHH dược phẩm Shahering với tư cách là bên giao đại lý và BĐ_Công ty Tâm Phúc làđại lý phân phối độc quyền và duy nhất sản phẩm của NĐ_Công ty TNHH dược phẩm Shahering.

Phán quyết của Tòa:

Quan hệ giao dịch giữa NĐ_Công ty TNHH dược phẩm Shahering và BĐ_Công ty Tâm Phúc là giao dịch mua bán hay thông thường hay là tranh chấp hợp đồng đại lý?

Trong tất cả các hợp đồng mua bán hàng hóa mà các bên đã ký từ năm 2007 đến năm 2010 đều thể hiện rõ nội dung: Nhiệm vụ của bên B (tức là BĐ_Công ty Tâm Phúc) là phân phối các mặt hàng do nhà máy Dược phẩm Shahering sản xuất tại thị trường Việt Nam. Dù hình thức tên gọi của hợp đồng được các bên sử dụng không đúng với thực tế tuy nhiên nội dung bản chất giao dịch của các bên phù hợp với quy định tại Điều 168 Luật thương mại, cụ thể theo quy định của Luật Thương mại thì: Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương”. Đồng thời phía bị đơn xuất trình chứng cứ là quan hệ các bên vẫn diễn ra bình thường, đến năm 2011 thì các bên không còn sử dụng hình thức ràng buộc nhau với tên gọi hợp đồng mua bán mà thay thế bằng hợp đồng đại lý.

Qua đó nhận thấy, nếu như phía nguyên đơn cho rằng giao dịch giữa hai bên chỉ là mua bán thông thường thì lý do tại sao đến năm 2011 lại chấp nhận ký hợp đồng đại lý? Mặt khác, nếu so sánh về nội dung giữa Hợp đồng mua bán và hợp đồng đại lý mà các bên đã ký thì hầu như không có sự khác biệt. Tất cả đều thể hiện BĐ_Công ty Tâm Phúc phân phối các mặt hàng do NĐ_Công ty TNHH dược phẩm Shahering sản xuất tại Việt Nam. Đồng thời, theo nguyên đơn thì nội dung của hợp đồng không thỏa mãn các điều kiện được quy định trong hợp đồng đại lý mà pháp luật quy định. Ví dụ như hợp đồng không thể hiện thù lao đại lý mà BĐ_Công ty Tâm Phúc được hưởng. Qua đó, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù trong hợp đồng không thể hiện thù lao đại lý mà BĐ_Công ty Tâm Phúc được hưởng. Tuy nhiên, căn cứ khoản 1 Điều 171 Luật Thương mại quy định: Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thù lao đại lý được trả cho bên đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá”. Đối chiếu các bảng tổng hợp giá mua và giá bán có trong hồ sơ vụ án thấy rằng:

Viện dẫn một số mặt hàng như:

1. Alertin Tab10mg Shinpoong VN giá mua là 28.104 đồng; giá bán là: 28.518 đồng; chênh lệch là: 414 đồng.

 2. Antannazol Cr 10g Shinpoong VN giá mua là 6.081 đồng; giá bán là: 9.770 đồng; chênh lệch là 3.689 đồng.

 3. Carvesyl 6.25mg giá mua là: 12.118 đồng; giá bán là: 16.016 đồng; chênh lệch là: 3.898 đồng.

 Và còn nhiều loại thuốc khác nữa, tuy nhiên qua đó cóđủ cơ sở xác định dù trong hợp đồng không thể hiện thù lạo đại lý nhưng việc các mặt hàng thuốc được NĐ_Công ty TNHH dược phẩm Shahering sản xuất mà BĐ_Công ty Tâm Phúc bán ra để hưởng chênh lệch trong trường hợp này được xem là thù lao đại lý mà BĐ_Công ty Tâm Phúc được hưởng.

Mặt khác, theo giấy ủy quyền ngày 15/11/2002 người đại diện theo pháp luật của NĐ_Công ty TNHH dược phẩm Shahering ông Seoun Tai Bai gửi các cơ quan chức năng thể hiện BĐ_Công ty Tâm Phúc là nhà phân phối chính thức của NĐ_Công ty TNHH dược phẩm Shahering trên lãnh thổ Việt Nam vàđồng ý chuyển nhượng cho BĐ_Công ty Tâm Phúc quyền sử dụng tất cả các mặt hàng do NĐ_Công ty TNHH dược phẩm Shahering Việt Nam sản xuất.

Từ những phân tích nêu trên có đủ căn cứ xác định quan hệ giao dịch giữa BĐ_Công ty Tâm Phúc và NĐ_Công ty TNHH dược phẩm Shahering là Đại lý thương mại; cụ thể NĐ_Công ty TNHH dược phẩm Shahering là bên giao đại lý và BĐ_Công ty Tâm Phúc là bên đại lý.

Đừng bỏ lỡ tin tức quan trọng, bài viết của các chuyên gia!

Tin tức nổi bật

Cập nhật 24h

Hữu ích