Thỏa thuận không rõ ràng về việc giải quyết tranh chấp tại VIAC bị Tòa bác để thụ lý và giải quyết tranh chấp
Link tải bản án: http://caselaw.vn/ban-an/Rd3ltr74Om
Vụ việc, Vụ án: Tranh chấp tiền bảo hành công trình
- Loại bản án: Sơ thẩm
- Cơ quan xét xử: TAND cấp huyện
- Số hiệu: 54/2013/KDTM-ST
- Ngày tuyên án: 15-10-2013
- Ngày thụ lý: 11/06/2013
----------------------------------------------------------------------------------------------------
MÔ TẢ TÓM LƯỢC:
Ngày 10/12/2007, Công ty BĐ_VASS ký hợp đồng với với Liên danh Nhà thầu gồm NĐ_SACO và Công ty Vật liệu xây dựng và Xây lắp Thương mại để giao Gói số 2 – Xây dựng nhà máy xử lý nước Kênh Đông và tuyến ống chuyển tải 1200mm. Công ty NĐ_SACO đã thực hiện hợp đồng như hai bên ký kết được một phần công trình thì Công ty BĐ_VASS yêu cầu được chấm dứt hợp đồng.
Công ty BĐ_VASS đã lập bảng tổng hợp giá trị nghiệm thu, giữ lại 3% bảo hành, thu hồi tạm ứng, thanh toán. Tại bảng tổng hợp này, Công ty BĐ_VASS đã xác định giá trị nghiệm thu, chấp nhận thanh toán cho Công ty NĐ_SACO số tiền là 74.601.650.173đ, trong đó bao gồm số tiền bảo hành (3%) còn giữ lại là: 2.238.050.205đ. Do Công ty BĐ_VASS chỉ thanh toán một phần số tiền trên nên NĐ_SACO đã nộp đơn khởi kiện Công ty BĐ_VASS tại Trung tâm Trọng tài Quốc Tế Việt Nam (VIAC). Ngày 24/8/2012, Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam ra quyết định công nhận hòa giải thành vụ kiện, hiện nay hai bên không còn tranh chấp phần giá trị thi công này.
Riêng đối với số tiền bảo hành công trình 3% thì tại thời điểm hai bên tranh chấp giá trị thi công tại cơ quan trọng tài thì chưa hết thời gian 24 tháng bảo hành công trình nên Công ty NĐ_SACO chưa yêu cầu trung tâm Trọng tài giải quyết. Nay tính từ ngày bàn giao công trình 15/3/2011 cho đến nay đã hơn 2 năm. “Căn cứ theo điều 1.1.3.7- Điều kiện riêng của hợp đồng, về thời gian bảo hành, sữa chữa sai sót là 2 năm; và Căn cứ theo điều 14.3, về thanh toán tiền giữ lại khi hết thời hạn bảo hành hoặc khi nhà thầu nộp chứng thư bão lãnh bảo hành” thì Công ty BĐ_VASS phải có nghĩa vụ trả cho Công ty NĐ_SACO số tiền bảo hành 3% còn giữ lại này nhưng Công ty BĐ_VASS không thực hiện nghĩa vụ của mình.
Vì vậy, Công ty NĐ_SACO khởi kiện Công ty BĐ_VASS ra tòa án Nhân Dân Quận TB để yêu cầu Công ty BĐ_VASS trả lại số tiền giữ bảo hành 3% của các hạng mục công trình đã thực hiện mà Công ty BĐ_VASS còn giữ lại là: 2.238.050.205đ.
Ý KIẾN CỦA BỊ ĐƠN:
Đề nghị Tòa án áp dụng Khoản 1 Điều 168 đình chỉ vụ án vì không thuộc thẩm quyền và đã được giải quyết bằng một quyết định đã có hiệu lực thi hành vì quyết định công nhận hòa giải thành tại Trọng tài hai bên đã thỏa thuận chấm dứt toàn bộ quyền và nghĩa vụ liên quan đến Hợp đồng P2/LCB/07 ngày 10/2/2007 và các phụ lục liên quan đến hợp đồng nên Công ty BĐ_VASS không còn bất kỳ nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng này
PHÁN QUYẾT CỦA TÒA:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Lập luận:
1. Thỏa thuận trọng tài không rõ ràng:
Tại Điều 20.6 thỏa thuận về Trọng tài của Hợp đồng số P2/LCB/07 ngày 10/12/2007 giữa Công ty BĐ_VASS và Công ty NĐ_SACO các bên thỏa thuận như sau: “Tranh chấp phải được xử lí bằng trọng tài theo các khoản sau:
LỰA CHỌN TRỌNG TÀI
Mọi tranh chấp do một bên đưa ra trọng tài sẽ được giải quyết tại trung tâm trọng tài thương mại Thành Phố HCM.
Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này, sẽ được giải quyết tại trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, theo qui tắc tố tụng trọng tài của trung tâm này.”
Và tại mục 3.0 Điều 20.6 của Hợp đồng, hai bên đã thỏa thuận về: “QUYẾT ĐỊNH RÀNG BUỘC: Quyết định của trung tâm trọng tài thương mại Thành Phố HCM sẽ là quyết định cuối cùng không thay đổi trong các phiên tòa.”
Như vậy, sự thỏa thuận về Trọng tài giải quyết khi có tranh chấp tại Điều 20.6 Điều kiện riêng PCC của Hợp đồng xây dựng số P2/LCB/07 như trên là không rõ ràng, không cụ thể và trái với qui định về quyền yêu cầu hủy quyết định trọng tài theo qui định tại Khoản 4 Điều 10, Điều 50 Pháp lệnh. Do vậy, thỏa thuận trọng tài của hai bên theo Điều 20.6 Hợp đồng số P2/LCB/07 là vô hiệu do thỏa thuận không rõ ràng về trung tâm Trọng tài vi phạm Khoản 4 Điều 10, Điều 50 của Pháp Lệnh trọng tài Thương mại năm 2003.
2. Thỏa thuận trọng tài không quy định tranh chấp về tiền bảo hành được giải quyết tại trọng tài
Công ty BĐ_VASS có Công văn số 257/CV ngày 29/10/2010 và Công ty NĐ_SACO có Công văn số 016/CV-KH -11 ngày 18/2/2011 đã xác định lại tên của trung tâm Trọng tài giải quyết là Trung Tâm Trọng Tài Quốc Tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) theo qui tắc tố tụng Trọng tài của Trung tâm này. Tuy nhiên, hai công văn này chỉ thỏa thuận đối với việc xác định tên trung tâm Trọng tài giải quyết một phần tranh chấp của hợp đồng; cụ thể là đối với việc thanh toán đợt 6, việc bù giá và điều chỉnh giá, việc chấm dứt hợp đồng, tịch thu Bảo lãnh thực hiện Hợp đồng mà không bao gồm giải quyết tranh chấp tiền bảo hành.
3. Quyết định hòa giải thành của VIAC không đề cập nội dung về tiền bảo hành
Trong phần quyết định công nhận hòa giải thành của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ngày 24/8/2012, có nội dung: “Hai bên chấm dứt toàn bộ quyền và nghĩa vụ liên quan đến Hợp đồng số: P2/LCB/07 ngày 10/12/2007 và các phụ lục liên quan đến hợp đồng này”. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên thì số tiền bảo hành này không nằm trong phạm vi đơn khởi kiện của Công ty NĐ_SACO yêu cầu Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam giải quyết nên các bên không thể thỏa thuận những vấn đề không tranh chấp.
Kể từ ngày 16/3/2011, ngày bàn giao công trình thì giữa hai bên cũng chưa có một thỏa thuận nào khác về số tiền bảo hành và chưa có cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết đối với số tiền này. Theo bảng tổng hợp giá trị nghiệm thu, giữ lại 3% bảo hành, thu hồi tạm ứng, thanh toán đã được đại diện Công ty BĐ_VASS ký xác nhận số tiền bảo hành còn giữ lại của Hợp đồng P2/LCB/2007 và nay thời hạn bảo hành đã hết, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán là phù hợp với qui định tại Điều 1.1.3.7 Điều kiện riêng hợp đồng: qui định thời gian bảo hành là 2 năm và tại Điều 14.3 qui định: khoản giữ lại 3% giá trị công trình; thanh toán tiền giữ lại khi hết thời hạn bảo hành hoặc khi nhà thầu nộp chứng thư bảo hành. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền bảo hành công trình 3% là 2.238.050.205đ là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.
Tin tức nổi bật
Cập nhật 24h
Hữu ích