cơ sở dữ liệu pháp lý



Sắp xếp:

1109/2015/DS-PT: Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Phúc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 4004
  • 224

Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

08-09-2015
TAND cấp tỉnh

Bà NĐ_Linh cho rằng bà BĐ_Loan đã giả tạo thiết lập các giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ thanh toán nợ cho bà NĐ_Linh. Do vậy, bà NĐ_Linh yêu cầu Tòa án tuyên bố “Văn bản thỏa thuận của vợ chồng về tài sản riêng” số 004742 ngày 12/6/2012 và “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở” số 009329 ngày 03/10/2013 do ông Nguyễn Văn Nghĩa xác lập là vô hiệu. Đồng thời, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Uỷ ban nhân dân Quận A cấp đối với căn nhà số 65 TX, Phường 7, Quận A, Tp. HCM cho bà LQ_Nguyễn Thị Thúy Vy do giấy chứng nhận này được Ủy ban nhân dân cấp căn cứ vào hợp đồng tặng cho bị vô hiệu nêu trên.


1475/2014/DSPT: Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà Phúc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 1698
  • 80

Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

19-11-2014
TAND cấp tỉnh

Căn nhà 45/12 Đường 11, Phường Y, quận GV, Tp.HCM là do bà mua của bà BĐ_Lưu Thị Thu Yến vào năm 2007, đã công chứng tại Phòng công chứng số 5 với giá 600.000.000 đồng. Bà đã thanh toán đầy đủ cho bà BĐ_Yến. Ngoài ra, bà BĐ_Yến còn mượn thêm của bà 50.000.000 đồng. Nhà đã được làm thủ tục sang tên qua tên bà. Khi mua nhà bà có đi xem xét hiện trạng căn nhà, bà BĐ_Yến thông báo cho bà biết hiện trong căn nhà đó có cha, mẹ của bà BĐ_Yến là ông Lưu Văn Hiệt, bà Nguyễn Thị Hường đang sinh sống. Bà BĐ_Yến yêu cầu bà cho ông Hiệt, bà Hường ở thêm hai tháng, bà cũng đồng ý. Ngoài cha mẹ bà BĐ_Yến bà không nghe nói có thêm người nào khác cùng sinh sống trong căn nhà đó. Ông Hiệt bà Hường biết rõ bà là người mua nhà và có nói với bà là nhà này là của bà BĐ_Yến nên mọi quyết định là do bà BĐ_Yến. Hiện trạng căn nhà là một gác, một lửng.


1042/2014/DS-PT: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Phúc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 4170
  • 153

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

22-08-2014
TAND cấp tỉnh

Theo đơn khởi kiện ngày 16/3/2013, lời khai tại Tòa án, nguyên đơn – bà NĐ_Phạm Thu Lành có người đại diện theo ủy quyền là ông Phạm Tấn Thuấn trình bày: Do quen biết, bà BĐ_Lê Thị Ngọc Châu đã nhiều lần vay mượn tiền của bà NĐ_Lành để kinh doanh. Đầu tháng 5/2011, bà BĐ_Châu có hỏi bà NĐ_Lành cho người quen là bà BĐ_Trần Thị Mùi vay tiền. Ngày 10/5/2011, bà NĐ_Lành đã đưa cho bà BĐ_Châu số tiền là 4.000.000.000đồng và bà BĐ_Châu đã lập văn bản xác nhận với nội dung: “Chị BĐ_Mùi đã nhận 4 tỷ đồng tiền bán căn nhà 4/4 ấp HL, xã BĐ, huyện HM, trong vòng 30 ngày chị BĐ_Mùi xin mua lại căn nhà trên với giá 4 tỷ đồng cộng lãi suất theo Ngân hàng. Nếu không đúng 30 ngày tôi xin chịu trách nhiệm số tiền trên”.


134/2015/DS-ST: Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà Sơ thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 2153
  • 90

Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

11-05-2015
TAND cấp huyện

Theo đơn khởi kiện ngày 11/3/2013 bản tự khai, biên bản hòa giải biên bản không tiến hành hoà giải được bà NĐ_Nguyễn Thị Kim Châu là nguyên đơn trình bày: Do có mối quan hệ với bà LQ_Huỳnh Thị Bính từ trước nên vào khoảng năm 2009 bà LQ_Huỳnh Thị Bính có gọi cho bà đến để cho bà Nguyễn Thị Hai mượn số tiền để bà Hai trị bệnh, nên vào ngày 27/12/2009 bà có đến nhà bà Hai và bà Hai có yêu cầu bà cho vay tiền nhưng bà không đồng ý, vì vay tiền mà không có tài sản đảm bảo, nên bà Hai có đồng ý bán cho bà căn nhà với giá chuyển nhượng là 300.000.000 đ (ba trăm triệu) đồng, do đó vào ngày 27/12/2009 bà Hai và bà có ký hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng căn nhà mang số 39/5/3 đường 22, khu phố 7, phường LĐ, quận TĐ, Thành phố HCM, hợp đồng bằng giấy tay không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền, bà Hai giao cho bà Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số 4387/2007/GCN ngày 15/10/2007 (bản chính), bà có yêu cầu ông BĐ_Nguyễn Văn Chín là con của bà Hai ký tên trong hợp đồng đặt cọc và đã giao cho bà Hai số tiền đặt cọc là 190.000.000 đ (một trăm chín mươi triệu) đồng có bà LQ_Huỳnh Thị Bính là em ruột của bà Hai là người làm chứng.


129/2015/DS-ST: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Sơ thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 1641
  • 70

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

08-05-2015
TAND cấp huyện

Theo đơn khởi kiện ngày 12/01/2015, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại Toà bà Nguyễn Thị Kim Hoa là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 25/8/2014 ông NĐ_Nguyễn Hữu Chiêu có cho bà BĐ_Nguyễn Thị Ngọc Hưng và ông BĐ_Lê Văn Vân vay số tiền 1.000.000.000 đ (một tỷ) đồng, việc vay mượn có ký hợp đồng tại Phòng công chứng số 3, quận TĐ, Thành phố HCM, thời hạn vay là 06 tháng, lãi suất là theo quy định của Ngân hàng nhà nước, đến ngày 01/9/2014 vợ chồng bà BĐ_Hưng, ông BĐ_Vân viết giấy tay đã nhận đủ số tiền 1.000.000.000 đ (một tỷ) đồng và cam kết trong thời hạn 03 tháng sẽ trả đủ cho ông NĐ_Chiêu số tiền trên, tuy nhiên từ khi vay tiền đến nay ông BĐ_Vân, bà BĐ_Hưng chưa thực hiện việc đóng tiền lãi tháng nào và chưa hoàn trả lại số tiền gốc, nên ông NĐ_Chiêu có đơn khởi kiện. Nay ông NĐ_Chiêu yêu cầu ông BĐ_Vân, bà BĐ_Hưng thực hiện theo hợp đồng vay tiền có công chứng ngày 25/8/2014 và giấy mượn tiền viết tay ngày 01/9/2014, cụ thể yêu cầu ông BĐ_Vân, bà BĐ_Hưng trả số tiền 1.000.000.000 đ (một tỷ) đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật và tự nguyện không yêu cầu tính lãi. Khi vay tiền ông BĐ_Vân, bà BĐ_Hưng không có thế chấp tài sản, số tiền cho vay là của cá nhân ông NĐ_Chiêu không liên quan gì đến ai.