CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM



Sắp xếp:

1970/2016/LĐ-ST: Tranh chấp về tiền lương Sơ thẩm Lao động

  • 416
  • 53

Tranh chấp về tiền lương

21-09-2016
TAND cấp huyện

Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn bà NĐ_Nguyễn Hồ Uyên Tú trình bày: Bà vào làm việc tại BĐ_Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Minh Khang (sau đây gọi tắt là BĐ_Công ty Minh Khang) từ ngày 15/8/2009 đến ngày 04/6/2014 với chức danh Trưởng bộ phận Tổ chức hành chính. Hai bên có ký kết hợp đồng lao động có thời hạn 02 lần, lần 1 ngày 01/9/2010 ký Hợp đồng lao động số 50/10/HĐLĐ thời hạn 01 năm. Lần 2, Ngày 01/9/2011 ký Hợp đồng lao động số 32/11/HĐLĐ thời hạn là 03 năm. Ngày 27/8/2013, bà nhận được Thông báo số 215/TB-TCHC của BĐ_Công ty Minh Khang về việc tạm ngưng công việc được giao đối với bà. Bà đã gửi đơn hỏi lý do tạm ngưng công việc của bà nhưng phía Công ty không có văn bản trả lời. Trong suốt thời gian 09 tháng tạm ngưng công việc Công ty không chi trả bất kỳ khoản tiền lương nào cho bà.


2116/2016/LĐ-ST: Tranh chấp về tiền lương Sơ thẩm Lao động

  • 256
  • 24

Tranh chấp về tiền lương

30-09-2016
TAND cấp huyện

NHẬN THẤY: Theo đơn khởi kiện ngày 17/7/2015 và tại các buổi làm việc và tại phiên tòa, nguyên đơn NĐ_Nguyễn Thị Kim Hương trình bày: Bà thử việc tại BĐ_Công ty Cổ phần Minh Quân (gọi tắt là Công ty) ở vị trí kế toán nhân sự từ ngày 17/4/2015 đến hết ngày 04/6/2015. Theo như lời thư mời thử việc, BĐ_Công ty Cổ phần Minh Quân sẽ có thời gian thử việc là 02 tháng, tiền lương mỗi tháng là 6.000.000 đồng. Trong thời gian thử việc, bà thấy môi trường làm việc không phù hợp nên bà xin nghỉ việc sau khi làm hết ngày 13/5/2015. Nhưng giám đốc công ty muốn bà ở lại hỗ trợ công việc vì chưa có người làm, bà đồng ý hỗ trợ công ty cho đến khi tìm được người làm mới nhưng thời gian không quá ngày 13/6/2015. Ngày 02 và ngày 03 tháng 6 năm 2016, bà tiến hành bàn giao công việc cho người mới. Bà đã yêu cầu bị đơn trả lương rất nhiều lần nhưng công ty gây khó dễ không chịu trả lương cho bà.


06/2013/LĐ-ST: Tranh chấp về tiền lương Sơ thẩm Lao động

  • 323
  • 19

Tranh chấp về tiền lương

08-08-2013
TAND cấp huyện

Ông NĐ_Thịnh làm việc tại BĐ_Công ty CP Công trình giao thông 05 vào ngày 23 tháng 9 năm 1995 theo loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Đến ngày 01/01/2005 ông được đề bạt làm quyền trưởng phòng vật tư. Lúc đó, ông Nguyễn Ngọc Luận đã là Phó phòng phụ trách vật tư luân chuyển, theo dõi vật tư tại các kho trong đó có kho Rạch Chiếc của Công ty trong nhiều năm trước. Sau đó, vào tháng 5/2006, ông Luận chuyển sang công tác khác nhưng không có bàn giao công việc và chứng từ sổ sách cho ông NĐ_Thịnh. Cuối năm 2006 sau khi tổ chức kiểm kê, ông NĐ_Thịnh phát hiện ở kho Rạch Chiếc mất 94 tấn sắt thép và có báo cáo lãnh đạo BĐ_Công ty 05 và Tổng công ty 6. Sau đó, Công ty cho biết chỉ còn mất 33,572 tấn sắt thép và quy chụp ông NĐ_Thịnh phải chịu trách nhiệm, nói ông phải chứng minh được là không phải lỗi của ông.


12/2013/LĐ-ST: Tranh chấp về tiền lương Sơ thẩm Lao động

  • 209
  • 19

Tranh chấp về tiền lương

27-06-2013
TAND cấp huyện

Nguyên đơn vào làm việc tại BĐ_Công ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Thanh Duy (từ đây viết tắt là BĐ_Công ty Thanh Duy) từ tháng 12/2007, sau thời gian 3 tháng thử việc thì bắt đầu từ tháng 3/208 hai bên cứ hàng năm ký Hợp đồng lao động một lần với thời hạn một năm và cuối cùng là ngày 30/12/2011, hai bên ký Phụ lục hợp đồng lao động xác định thời gian làm việc của Nguyên đơn kết thúc vào ngày 28/02/2012. Trong nội dung các Hợp đồng lao động giữa hai bên ký kết đều thể hiện mức lương người lao động được hưởng, nghĩa vụ của các bên về các chính sách tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế … Ngoài ra Hợp đồng còn quy định về chế độ nâng lương, tiền thưởng hàng năm, chế độ nghĩ phép … .


118/2014/LĐ-ST: Tranh chấp về tiền lương Sơ thẩm Lao động

  • 266
  • 22

Tranh chấp về tiền lương

28-07-2014
TAND cấp huyện

Theo đơn khởi kiện, được bổ sung trong các bản tự khai, trong các biên bản hòa giải ngày 28/4/2014, ngày 02/7/2014, theo đó ông Phúc đại diện ông NĐ_Quân trình bày: Ngày 24/3/2011, BĐ_Công ty TNHH MTV Xe Khách An Tâm (Sau đây gọi tắt là Công ty xe khách SG) và ông NĐ_Dương Minh Quân ký hợp đồng lao động số 11-50-LX: HĐLĐ, thời hạn 01 năm kể từ ngày 24/03/2011 đến ngày 24/3/2012, chức danh chuyên môn: Nhân viên phục vụ xe buýt, mức lương chính: hệ số lương: 2.51, bậc 12.3, hình thức trả lương theo đơn giá khoán chuyến và qui chế trả lương của công ty từng thời Điểm. Theo hợp đồng thì ông NĐ_Quân là Nhân viên phục vụ xe buýt, tuy nhiên do ông NĐ_Quân có giấy phép lái xe phù hợp với yêu cầu của Công ty nên Công ty đã bố trí ông Làm lái xe từ ngày ký hợp đồng cho đến ngày xảy ra tai nạn.