- NGHỊ ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 56-HĐBT NGÀY 30-5-1989 QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH PHÁP LỆNH NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG CÔNG ÍCH
- I- ĐỐI TƯỢNG, HÌNH THỨC THỰC HIỆN NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG CÔNG ÍCH HÀNG NĂM
- Điều 1. - Những đối tượng được miễn, tạm miễn, giảm ngày công lao động nghĩa vụ công ích hàng năm theo các điều 10, 11, 12, của Pháp lệnh được quy ước cụ thể như sau:
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 1, 2 Thông tư 13-LĐTBXH/TT-1989 có hiệu lực từ ngày 05/09/1989
- 1. Những người giữ chức sắc tôn giáo sau đây được miễn thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hàng năm:
- 3. Quân nhân dự bị, dân quân tự vệ làm nhiệm vụ kiểm tra sẵn sàng chiến đấu, trực chiến hoặc truy bắt biệt kích, thám báo, do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, gọi tắt là huyện (đối với vùng biên giới, hải đảo do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, hoặc đơn vị hành chính tương đương gọi tắt là xã) trở lên điều động thì số ngày làm nhiệm vụ nói trên được trừ vào số ngày công lao động công ích ghi trong lệnh huy động đối với bản thân quân nhân dự bị, dân quân tự vệ đó.
- Điều 2. - Người được huy động làm nghĩa vụ lao động công ích hàng năm phải trực tiếp làm là chính. Nếu vì hoàn cảnh nào đó không thể trực tiếp làm lao động công ích được thì thuê người làm thay. Khi thuê người làm thay, người được huy động và người làm thay phải có giao kèo quy định rõ trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên, đồng thời phải báo cho cơ quan huy động biết, làm cơ sở pháp lý để giải quyết khi có tranh chấp. Trường hợp không tự thuê người làm thay thì đề nghị với Uỷ ban nhân dân xã hoặc cơ quan, xí nghiệp cho nộp một số tiền để thuê người làm thay số ngày công lao động ghi trong lệnh huy động, theo giá tiền công ở địa phương.
- Điều 3. - Việc quản lý và sử dụng tiền do người có nghĩa vụ lao động công ích hàng năm đóng góp thay cho đi làm trực tiếp được tiến hành như sau:
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 6, 7 Thông tư 13-LĐTBXH/TT-1989 có hiệu lực từ ngày 05/09/1989
- Điều 4. - Để sử dụng hợp lý, tiết kiệm lực lượng lao động xã hội và quỹ ngày công lao động công ích hàng năm, tạo điều kiện cho công dân thực hiện tốt nghĩa vụ lao động công ích, hạn chế những ảnh hưởng không tốt đến sản xuất, công tác, học tập của công dân, cơ quan, xí nghiệp; khi huy động sử dụng lao động theo nghĩa vụ lao động công ích hàng năm, cơ quan huy động phải chú ý:
- Điều 5. - Chỉ được huy động sử dụng lao động theo nghĩa vụ lao động công ích hàng năm làm những công việc quy định tại điều 6 của Pháp lệnh, cụ thể là:
- II- HUY ĐỘNG NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG CÔNG ÍCH TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP
- Điều 6.- Thẩm quyền ra lệnh huy động nghĩa vụ lao động công ích trong các trường hợp khẩn cấp:
- Điều 7. - Khi hết thời hạn huy động khẩn cấp mà công việc chưa hoàn thành cần sử dụng thêm lao động, thì phải sử dụng các lực lượng lao động khác, không được kéo dài thời gian huy động khẩn cấp.
- Điều 8. - Các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị quân đội có nhu cầu sử dụng lao động theo nghĩa vụ lao động công ích khẩn cấp phải trực tiếp đề nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân địa phương sở tại ra lệnh huy động.
- Điều 9. - Việc huy động lao động theo nghĩa vụ lao động công ích trong các trường hợp khẩn cấp phải cân nhắc kỹ; trường hợp thật cần thiết mới huy động phương tiện, máy móc, nguyên liệu của các cơ sở hoặc của nhân dân.
- III- NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI TRỰC TIẾP THAM GIA LAO ĐỘNG CÔNG ÍCH
- Điều 10. - Người trực tiếp tham gia lao động công ích làm theo chế độ khoán theo định mức lao động của Nhà nước. Trường hợp không thể định mức được thì làm theo thời gian.
- Điều 11. - Người trực tiếp tham gia lao động công ích có nhiệm vụ:
- Điều 12. - Người trực tiếp tham gia lao động công ích được hưởng quyền lợi như sau:
- Điều 13. - Các chi phí trong việc sử dụng lao động công ích quy định tài điều 12 do đơn vị sử dụng lao động công ích thanh toán và hạch toán vào giá thành công trình. Riêng chi phí trợ cấp hàng tháng và trợ cấp mất người nuôi dưỡng thì tuỳ theo từng loại đối tượng do quỹ bảo hiểm xã hội hoặc ngân sách địa phương chi.
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 3, 4, 5 Thông tư 13-LĐTBXH/TT-1989 có hiệu lực từ ngày 05/09/1989
- Điều 14. - Phụ nữ tham gia nghĩa vụ lao động công ích trong những ngày hành kinh được đơn vị sử dụng bố trí làm những công việc phù hợp với sức khoẻ.
- IV- TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC NGÀNH, CÁC CẤP
- Điều 15. - Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước có trách nhiệm tổng hợp và cân đối kế hoạch sử dụng lao động công ích hàng năm của các ngành, các địa phương trong phạm vi cả nước.
- Điều 16. - Bộ Lao động - Thương binh và xã hội có trách nhiệm:
- Điều 17. - Bộ Tài chính có trách nhiệm:
- Điều 18. - Bộ Y tế có trách nhiệm hướng dẫn và chỉ đạo việc tổ chức khám, chữa bệnh, cấp cứu tai nạn lao động trên các công trường sử dụng lao đọng công ích.
- Điều 19. - Tổng cục thống kê có trách nhiệm nghiên cứu ban hành các biểu mẫu thống kê và hướng dẫn thực hiện để nắm khả năng ngày công lao động công ích hàng năm, tổng hợp kết quả việc huy động, sử dụng của các ngành và các địa phương.
- Điều 20. - Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo và thực hiện chế độ nghĩa vụ lao động công ích hàng năm và khẩn cấp theo đúng nguyên tắc, chính sách, thẩm quyền đã được quy định; quản lý quỹ ngày công lao động công ích hàng năm của địa phương mình.
- Điều 21.- Các đơn vị sử dụng lao động công ích có trách nhiệm:
- V- KHEN THƯỞNG, XỬ PHẠT
- Điều 22. - Việc khen thưởng những đơn vị và cá nhân có thành tích trong việc huy động, quản lý, sử dụng lao động công ích theo điều 21 của Pháp lệnh được thực hiện theo Điều lệ khen thưởng thành tích thực hiện kế hoạch Nhà nước và các nhiệm vụ công tác khác quy định tại Nghị định số 53- HĐBT ngày 25-2-1985 của Hội đồng Bộ trưởng.
- Điều 23. - Tổ chức hoặc cá nhân không thi hành đúng theo Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích và Nghị định này thì tuỳ theo lỗi nặng, nhẹ mà bị xử phạt như sau:
- Điều 24. - Việc khiếu nại và tố giác của công dân quy định tại điều 23 của Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích, thực hiện theo quy định hiện hành về việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
- VI- ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
- Điều 25.- Các quy định về nghĩa vụ lao động công ích trái với Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích và Nghị định này đều bị bãi bỏ.
- Điều 26. - Bộ Lao động - Thương binh và xã hội có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn thi hành Nghị định này.
Nghị định số 56-HĐBT ngày 30/05/1989 của Hội đồng Bộ trưởng Hướng dẫn Pháp lệnh Nghĩa vụ lao động công ích (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 56-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Ngày ban hành: 30-05-1989
- Ngày có hiệu lực: 30-05-1989
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 13-01-2001
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 4246 ngày (11 năm 7 tháng 21 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 13-01-2001
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Nghị định số 56-HĐBT ngày 30/05/1989 của Hội đồng Bộ trưởng Hướng dẫn Pháp lệnh Nghĩa vụ lao động công ích (Văn bản hết hiệu lực)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh