- NGHỊ ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 58-HĐBT NGÀY 29-3-1982 VỀ VIỆC THI HÀNH PHÁP LỆNH QUY ĐỊNH VIỆC XÉT VÀ GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN
- I. QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG DÂN TRONG VIỆC KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
- Điều 1.- Công dân khiếu nại, tố cáo có quyền gửi đơn hoặc trực tiếp trình bày miệng với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước từ địa phương đến trung ương về những việc làm trái chính sách, pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân (sau đây gọi tắt là cơ quan, tổ chức) hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức đó, đã làm thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân.
- Điều 2.- Những người vì ốm đau hoặc vì đang bị tạm giam, tạm giữ, hoặc vì một lí do nào khác không thể tự mình khiếu nại, tố cáo, có thể nhờ người khác chuyển đơn khiếu nại, tố cáo hoặc trực tiếp trình bày miệng với các cơ quan có thẩm quyền xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo.
- Điều 3.- Công dân đưa đơn khiếu nại, tố cáo hoặc trực tiếp trình bày miệng phải trung thực và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức Nhà nước về nội dung khiếu tố. Trong đơn phải nêu rõ họ, tên, nghề nghiệp, chỗ ở hiện tại hoặc chỗ làm việc của mình; phải nêu rõ sự việc, chứng cứ và các yêu cầu giải quyết.
- Điều 4.- Các khiếu nại, tố cáo do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xét, giải quyết mà đương sự thấy không đồng ý thì có quyền yêu cầu cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó xét, giải quyết lại.
- II. VIỆC TIẾP DÂN VÀ NHẬN CÁC KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
- Điều 5.- Các cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhân dân từ trung ương đến địa phương phải tổ chức việc tiếp dân, nhận các khiếu nại, tố cáo; phải công bố công khai cho nhân dân biết lịch tiếp dân, địa điểm, ngày giờ tiếp dân. Ở những vùng xa tỉnh lỵ, nhất là các tỉnh miền núi cần tổ chức các buổi tiếp lưu động.
- Điều 6.- Cán bộ tiếp dân đến khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm nhận đơn, hỏi rõ sự việc; nếu người khiếu nại, tố cáo trình bày sự việc thì phải lắng nghe, ghi chép nội dung sự việc và bản ghi phải được đương sự ký xác nhận. Trường hợp cần thiết có thể ghi âm lời khiếu nại, tố cáo.
- Điều 7.- Các cơ quan, tổ chức nhận đơn khiếu nại, tố cáo của công dân phải nghiên cứu, phân loại và ghi tóm tắt nội dung các khiếu nại, tố cáo vào sổ theo dõi.
- Điều 8.- Đối với các khiếu nại, tố cáo có nội dung chưa rõ thì cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm hướng dẫn hoặc yêu cầu đương sự bổ sung cho rõ hoặc viết lại đơn và gửi đến nơi cơ thẩm quyền xét, giải quyết.
- Điều 9.- Những đơn tố cáo không kí tên, mạo tên hoặc không rõ địa chỉ nhưng có nội dung nói đến những vi phạm chính sách, pháp luật thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nhận được đơn đó phải xem xét, giải quyết; hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, giải quyết như các đơn khiếu tố khác.
- Điều 10.- Đối với những đơn tố cáo mà đương sự có yêu cầu giữ bí mật người tố cáo thì những người làm các công việc nhận đơn, chuyển đơn, xem xét và giải quyết đều có trách nhiệm giữ bí mật theo yêu cầu của đương sự.
- III. THẨM QUYỀN, THỜI HẠN VÀ THỦ TỤC TRONG VIỆC XÉT VÀ GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN
- Điều 11.- Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức khi thấy trong đơn vị mình nảy sinh những hiện tượng vi phạm chính sách, pháp luật thì phải bàn bạc với các bên đương sự, kịp thời giải quyết để khỏi xảy ra việc khiếu nại, tố cáo; nếu xảy ra khiếu nại, tố cáo thì phải giải quyết kịp thời, không được lẩn tránh trách nhiệm, đùn đẩy việc giải quyết cho người khác, khiến đương sự phải đưa lên cấp trên.
- Điều 12.- Các khiếu nại, tố cáo do cơ quan, tổ chức cấp dưới đã xét và giải quyết, nhưng đương sự còn khiếu nại, tố cáo thì thủ trưởng cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp có trách nhiệm thẩm tra lại, nếu thấy việc giải quyết của cấp dưới là đúng thì ra văn bản chuẩn y và thông báo cho đương sự biết; nếu phát hiện có sai lầm thì ra quyết định giải quyết lại và thông báo kết quả cho đương sự biết.
- Điều 13.- Các thành viên của Hội đồng bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương theo thẩm quyền của mình, có trách nhiệm xem xét, giải quyết:
- Điều 14.- Chủ nhiệm Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ chịu trách nhiệm xem xét trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng giải quyết:
- Điều 15.- Khi xét giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân, các cơ quan, tổ chức phải theo các thủ tục sau đây:
- Điều 16.- Các việc khiếu nại, tố cáo của đương sự, khi đã có kết luận giải quyết thì phải trả lời cho đương sự; trường hợp cần ra quyết định giải quyết thì quyết định phải nêu rõ các căn cứ, nội dung giải quyết và thời hạn thi hành đối với các bên đương sự.
- Điều 17.- Trường hợp giải quyết các khiếu nại, tố cáo mà phải bồi thường thì sau khi xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm đối với từng việc cụ thể, cơ quan có thẩm quyền giải quyết ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân gây ra việc làm sai trái phải khôi phục danh dự hoặc bồi thường bằng tiền hoặc bồi thường bằng hiện vật cho người bị thiệt hại.
- Điều 18.- Cơ quan, tổ chức xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo có quyền:
- Điều 19.- Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân phải giải quyết theo thời hạn của pháp lệnh đã quy định; không được kéo dài thời hạn trong khi có điều kiện giải quyết sớm, trường hợp có khó khăn phức tạp không thể giải quyết được đúng thời hạn thì phải được thủ trưởng hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp quyết định cho gia hạn.
- IV. VIỆC QUẢN LÍ, KIỂM TRA CÔNG TÁC XÉT VÀ GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
- Điều 20.- Các thành viên Hội đồng bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lí toàn bộ công tác xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc ngành mình, cấp mình và của đơn vị mình.
- Điều 21.- Chủ nhiệm Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ được giao trách nhiệm giúp Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng thực hiện việc quản lý thống nhất trong phạm vi cả nước về công tác xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân:
- V. CHẾ ĐỘ BÁO CÁO VỀ CÔNG TÁC XÉT VÀ GIẢI QUYẾT CÁC ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
- Điều 22.- Ba tháng một lần, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng và chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương có trách nhiệm báo cáo cho chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về tình hình khiếu nại, tố cáo và việc xét giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân ở ngành, địa phương mình, đồng gửi cho Chủ nhiệm Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ báo cáo đó để theo dõi.
- Điều 23.- Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân cùng cấp về tình hình và kết quả xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân trong địa phương mình; trả lời các đại biểu Quốc hội, hoặc đại diện Hội đồng nhân dân cấp mình về những đơn do các đại biểu đó chuyển đến yêu cầu giải quyết.
- VI. VIỆC XỬ LÍ CÁC VI PHẠM
- Điều 24.- Những cán bộ, nhân viên Nhà nước có trách nhiệm nhận, chuyển, xét và giải quyết các khiếu tố mà không chấp hành đầy đủ những điều quy định trong Pháp lệnh và trong Nghị định này thì tuỳ theo lỗi nặng, nhẹ sẽ bị xử lý kỷ luật hành chính theo một trong các hình thức sau đây:
- VII. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
- Điều 25.- Các khiếu nại, tố cáo đã gửi trước khi ban hành Pháp lệnh mà chưa được xét và giải quyết xong thì cơ quan, tổ chức đang giữ các khiếu nại, tố cáo đó phải chuyển ngay đến các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xét và giải quyết theo Pháp lệnh quy định.
- Điều 26.- Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ, Bộ Tư pháp, các cơ quan thông tin, báo chí, đài phát thanh và đài truyền hình ở các cấp có trách nhiệm thường xuyên hướng dẫn nhân dân trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và đề cao trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước thực hiện nghiêm túc các điều quy định của Pháp lệnh.
- Điều 27.- Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Bãi bỏ những quy định trước đây trái với Nghị định này.
- Điều 28.- Bộ trưởng Tổng thư ký Hội đồng Bộ trưởng, các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương có trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Nghị định số 58-HĐBT ngày 29/03/1982 của Hội đồng Bộ trưởng Thi hành Pháp lệnh xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 58-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Ngày ban hành: 29-03-1982
- Ngày có hiệu lực: 29-03-1982
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 28-01-1991
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 3227 ngày (8 năm 10 tháng 7 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 28-01-1991
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh