- NGHỊ ĐỊNH VỀ GIAO THÔNG VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN
- Điều 1. – Để bảo đảm an toàn và trật tự của việc giao thông vận tải đường biển, nay quy định những nguyên tắc cơ bản về việc quản lý các phương tiện vận tải đường biển và về việc giao thông ở trong hải phận, trong các Cảng, khúc sông mà tàu biển có thể ra vào được của nước Việt-nam dân chủ cộng hòa.
- Chương 1: PHƯƠNG TIỆN ĐI BIỂN
- Điều 2. – Trừ những phương tiện của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vũ trang, tất cả các phương tiện đi biển của cơ quan Nhà nước, xí nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh, hợp tác xã hay tập đoàn, (bất luận là phương tiện vận tải hay phương tiện chuyên dùng như tàu kéo, tàu cuốc, tài hoa tiêu, tàu, thuyền đánh cá v .v…) đều do các cơ quan Giao thông vận tải có trách nhiệm thống nhất quản lý kỹ thuật, kiểm tra an toàn, đăng ký và cấp giấy phép đi lại.
Điều này được sửa đổi bởi Điều 1 Quyết định 94-CP năm 1980 có hiệu lực từ ngày 10/04/1980
- Điều 3. – Các cơ quan Giao thông vận tải được Bộ Giao thông vận tải phân công quản lý giao thông đường biển là những Sở, Ty Giao thông vận tải, Ty Cảng vụ, cơ quan đăng ký và kiểm tra giao thông đường biển. Những cơ quan này có nhiệm vụ:
- Điều 4. – Phương tiện đi biển chỉ được sử dụng sau khi đã được cấp giấy phép đi lại. Giấy phép đi lại chỉ cấp cho những phương tiện đi biển có đủ các điều kiện về an toàn và vệ sinh cần thiết.
Điều này được sửa đổi bởi Điều 1 Quyết định 476-TTg năm 1978 có hiệu lực từ ngày 13/10/1978
- Điều 5. – Các phương tiện đi biển, sau khi đã đăng ký được cấp các giấy tờ cần thiết theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. Các giấy tở này phải được giữ gìn cẩn thận và phải xuất trình mỗi khi nhà chức trách yêu cầu. Thuyền trưởng phải chịu trách nhiệm nếu phương tiện thiếu những giấy tờ quy định trong khi đi lại.
- Chương 2: THUYỀN TRƯỞNG, VÀ CÔNG NHÂN VIÊN LÀM VIỆC TRÊN TÀU
- Điều 6. - Trừ các bè, mảng và thuyền nhỏ đánh cá, mỗi phương tiện đi biển phải có một Thuyền trưởng chỉ huy chịu trách nhiệm chung, và một số công nhân viên để làm các công việc ở trên tàu gọi chung là công nhân viên trên tàu. Cơ quan Giao thông vận tải có thẩm quyền ấn định số công nhân viên cần thiết của mỗi phương tiện đi biển và ghi vào giấy phép đi lại của phương tiện này. Đối với các phương tiện đánh cá biển, vì công nhân viên trên tàu vừa làm việc của thủy thủ vừa làm việc đánh cá, cơ quan Giao thông vận tải có thẩm quyền cần phối hợp với cơ quan Thủy sản để ấn định số công nhân viên cho thích hợp.
- Điều 7. - Tất cả những công nhân viên trên các phương tiện đi biển đều phải đăng ký ở các cơ quan Giao thông vận tải và mỗi người được cấp riêng một “sổ công nhân viên trên tàu” khi công nhân viên trên tàu theo phương tiện đi biển ra nước ngoài Bộ Giao thông vận tải sẽ cấp cho mỗi người một sổ hộ chiếu.
- Điều 8. - Thuyền trưởng, thợ máy, thợ điện trên các phương tiện cơ giới đi biển đều phải có bằng cấp do cơ quan Giao thông vận tải cấp. Các vô tuyến điện viên sẽ do Tổng cục Bưu điện và truyền thanh đào tạo và cấp bằng.
Điều này được sửa đổi bởi Điều 1 Quyết định 94-CP năm 1980 có hiệu lực từ ngày 10/04/1980
- Chương 2: BẢO VỆ LUỒNG LẠCH VÀ CÁC CỬA KHẨU
- Điều 9. – Nghiêm cấm tất cả những hành động cản trở giao thông đường biển.
- Điều 10. – Ở gần các công trình và thiết bị về giao thông vận tải đường biển, tất cả các chướng ngại vật như đăng, đáy cả và chà rào v .v… ở trên luồng đi lại đều phải có tín hiệu theo đúng quy định của Bộ Giao thông vận tải.
- Điều 11. – Phương tiện đi biển không được làm hư hại các công trình, thiết bị của cảng như cầu tầu, nhà đèn, phao v .v… Tuyệt đối cấm cột phương tiện đi biển vào các phao chỉ luồng. Nếu các phương tiện đi biển làm hư hại các công trình và thiết bị của cảng, gây ra tổn hại các công trình và thiết bị của cảng, gây ra tổn thất đều phải bồi thường thiệt hại; nếu làm hư hỏng, xê dịch hoặc trôi các phao chỉ luồng thì Thuyền trưởng phải báo ngay cho Ban Giám đốc Cảng biết.
- Điều 12. – Ở các vịnh và khúc sông mà tầu biển có thể ra vào được, không một công trình nào được xây dựng, không một thiết bị nào được đặt, nếu không có sự cho phép của Bộ Giao thông vận tải.
- Điều 13. – Khi một phương tiện đi biển bị đắm hay bị mắc cạn trong phạm vi các cảng hay ở trong hải phận của nước Việt-nam dân chủ cộng hòa, thì Thuyền trưởng phải báo cáo ngay với cơ quan Giao thông vận tải địa phương hay cảng gần nhất, đồng thời phải thi hành những biện pháp báo hiệu cần thiết để tránh nguy hiểm cho các phương tiện đi biển khác.
- Chương 4: RA VÀO CẢNG - BẾN ĐẬU
- Điều 14. – Những cảng sau đây được mở để giao dịch với nước ngoài:
- Điều 15. – Tàu buôn nước ngoài muốn vào các cảng quy định ở điều 14 trên đây phải xin phép Bộ Giao thông vận tải nước Việt-nam dân chủ cộng hòa trước, phải kịp thời cung cấp cho cơ quan quản lý cảng định vào cảng những tài liệu về tàu, về công nhân viên trên tàu, về hành khách và hàng hóa theo quy định của Bộ Giao thông vận tải.
- Điều 16. – Trong khi đậu và đi lại ở các Cảng, các bến trong hải phận của nước Việt-nam dân chủ cộn hòa, phương tiện đi biển nước ngoài phải luôn luôn treo quốc kỳ của nước mình.
- Điều 17 – Phương tiện đi biển của nước ngoài ra vào và đi lại trong phạm vi các cảng quy định ở điều 14 trên đây bắc buộc phải lấy hoa tiêu ở các cảng đó để dẫn tàu. Trong khi hoa tiêu dẫn tàu, Thuyền trưởng vẫn phải chịu trách nhiệm về an toàn của tàu. Nếu thấy hoa tiêu có những thiếu sót về nghiệp vụ có thể gây ra tai nạn, Thuyền trưởng có quyền đình chỉ công tác của hoa tiêu và xin thay hoa tiêu khác . Nếu xảy ra tai nạn, hoa tiêu có thể bị trừng phạt về hình sự và chủ phương tiện hoàn toàn chịu trách nhiệm về dân sự.
- Chương 5: ĐỀ PHÒNG TAI NẠN VÀ NHIỆM VỤ CỨU TRỢ KHI XẢY RA TAI NẠN
- Điều 18 . - Để tránh tai nạn, tất cả phương tiện đi biển đi lại, đánh cá hoặc làm những công tác như nạo vét lòng lạch, đặt hoặc vớt phao tiêu, trục vớt tầu, thuyền v .v… (kể cả phương tiện của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vũ trang và các phương tiện đi biển của nước ngoài) trong hải phận, trong các vịnh và các khúc sông mà tàu biển có thể ra vào được của nước Việt-nam dân chủ cộng hòa, đều phải nghiêm chỉnh chấp hành các luật pháp của nước Việt-nam dân chủ cộng hòa, các quy tắc của Bộ Giao thông vận tải và các điều lệ của các Cảng về mặt giao thông vận tải đường biển. Chủ phương tiện và Thuyền trưởng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những tai hại do mọi sự sơ suất trong khi chấp hành những quy định về giao thông vận tải đường biển.
- Điều 19. – Ở trong hải phận Việt-nam, khi một phương tiện bị nạn, thì Thuyền trưởng phải lập tức thi hành những biện pháp cần thiết và khẩn trương để cứu những người bị nạn và hàng hóa.
- Điều 20. – Khi xẩy ra tai nạn, Thuyền trưởng của phương tiện đi biển bị nạn phải tìm mọi cách báo tin ngay cho nhà chức trách địa phương biết và sau đó phải làm báo cáo cụ thể về tình hình tai nạn.
- Chương 6: CHẤP HÀNH THỂ LỆ XỬ LÝ CÁC VỤ VI PHẠM THỂ LỆ VÀ TRANH CHẤP
- Điều 21. – Các phương tiện đi biển đi lại trong hải phận và ra vào các Cảng của nước Việt-nam dân chủ cộng hòa đều phải:
- Điều 22. – Người vi phạm thể lệ giao thông làm mất trật tự ở các Cảng và ở trong hải phận của nước Việt-nam dân chủ cộng hòa, sẽ bị cảnh cáo hoặc phạt tiền. Người vi phạm nghiêm trọng, gây ra tai nạn hoặc làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của nhân dân, sẽ bị truy tố trước Tòa án; phương tiện đi biển của người vi phạm nghiêm trọng có thể bị giữ lại trong một thời gian cần thiết để điều tra.
- Điều 23. – Mọi tranh chấp giữa chủ phương tiện đi biển của nước ngoài với các cơ quan, xí nghiệp trong nước về những vấn đề ra vào Cảng, về việc thi hành các hợp đồng vận tải, hợp đồng xếp dỡ; về việc cứu trợ tàu bị nạn và bồi thường thiệt hại v .v… đều do Ủy ban Trọng tài hàng hải Việt-nam xét xử.
- Điều 24. – Những cán bộ sau đây có quyền lập biên bản về các vụ vi phạm thể lệ giao thông:
- Điều 25. – Các cơ quan Giao thông vận tải nói ở điều 3 trên đây cùng với các đội tuần tra của Công an nhân dân vũ trang và Cảnh sát nhân dân có nhiệm vụ kiểm soát việc chấp hành thể lệ về giao thông vận tải đường biển nhằm duy trì trật tự ở các Cảng và bảo đảm an toàn giao thông đường biển trong hải phận của nước Việt-nam dân chủ cộng hòa.
- Chương 7: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
- Điều 26. – Ông Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải sẽ quy định chi tiết thi hành nghị định này.
- Điều 27. – Các ông Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, ông Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, các Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố miền biển chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.
Nghị định số 203-CP ngày 19/11/1962 của Hội đồng Chính phủ Về giao thông vận tải đường biển (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 203-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Ngày ban hành: 19-11-1962
- Ngày có hiệu lực: 04-12-1962
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 1: 13-10-1978
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 2: 10-04-1980
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 04-07-1991
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 10439 ngày (28 năm 7 tháng 9 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 04-07-1991
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Nghị định số 203-CP ngày 19/11/1962 của Hội đồng Chính phủ Về giao thông vận tải đường biển (Văn bản hết hiệu lực)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (1)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản sửa đổi, bổ sung (2)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh