- NGHỊ ĐỊNH BAN HÀNH ĐIỀU LỆ VỀ XẾP DỠ, GIAO NHÂN, VẬN CHUYỂN VÀ BẢO QUẢN HÀNG HÓA Ở CẢNG HẢI PHÒNG
- Điều 1: Nay ban hành, kèm theo nghị định này, bản điều lệ về xếp, dỡ, giao nhận, vận chuyển và bảo quản hàng hóa ở Cảng Hải phòng.
- Điều 2: Bản thể lệ tạm thời số 154/NĐ do Bộ Giao thông và Bưu điện ban hành ngày 21 tháng 6 năm 1957 không áp dụng đối với Cảng Hải phòng nữa kể từ ngày ban hành bản điều lệ này.
- Điều 3: Các ông Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Ngoại thương chịu trách nhiệm quy định chi tiết thi hành nghị định này.
- ĐIỀU LỆ VỀ VIỆC XẾP, DỠ, VẬN CHUYỂN, GIAO NHẬN VÀ BẢO QUẢN HÀNG HÓA Ở CẢNG HẢI PHÒNG
- Chương 1: NGUYÊN TẮC CHUNG
- Điều 1: - Bản điều lệ này quy định các nguyên tắc về xếp, dỡ, vận chuyển, giao nhận và bảo quản hàng hóa qua Cảng Hải-phòng.
- Điều 2: - Hàng hóa xuất nhập khẩu qua Cảng đều do Cảng tiếp nhận, xếp, dỡ, vận chuyển, bảo quản và giao cho tàu hay cho chủ hàng.
- Điều 3: - Các cơ quan, tàu và chủ hàng có liên quan đến việc xuất nhập khẩu hàng hóa qua Cảng, đều phải có trách nhiệm chuẩn bị chu đáo hàng hóa, kho, bãi, phương tiện xếp dỡ, công nhân, cầu tàu, khám nghiệm, giám định, giao nhận hàng hóa, làm thuế v.v… để việc xếp, dỡ, giao nhận được nhanh chóng.
- Điều 4: - Hàng tháng và trước mỗi chuyến tàu vào Cảng lấy hàng hoặc giao hàng, Cảng phải triệu tập các cơ quan có quan hệ đến công tác xuất nhập khẩu hàng hóa ở Cảng (Sở Hải quan, Chi cục kiểm nghiệm, Công ty đại lý tàu biển, Công ty kho hàng, Ban liên hiệp kiểm tra, Quốc doanh vận tải sông, biển, các Tổng công ty xuất nhập khẩu, Tổng kho) để bàn định thống nhất kế hoạch chuẩn bị hàng, chuẩn bị Cảng, chuẩn bị phương tiện, chuẩn bị các thủ tục, v.v… và phân công cụ thể cho mỗi cơ quan để kịp làm việc khi tàu tới Cảng.
- Điều 5: - Công ty đại lý tàu biển là cơ quan duy nhất làm trung gian giao dịch cho các hãng tàu biển nước ngoài, có nhiệm vụ:
- Điều 6: - Các cơ quan có hàng xuất nhập khẩu có nhiệm vụ:
- Chương 2: CÔNG TÁC CHUẨN BỊ CHO VIỆC XẾP, DỠ, GIAO, NHẬN HÀNG HOÁ
- Điều 7: - Trừ trường hợp những chuyến hàng lẻ và ít, các cơ quan chủ hàng có hàng hóa qua Cảng hoặc Công ty đại lý tàu biển, phải cùng Cảng ký kết hợp đồng xếp, dỡ vận chuyển và bảo quản hàng hóa. Các chủ hàng thường xuyên có hàng qua Cảng phải căn cứ vào kế hoạch đã gửi trước cho Cảng mà ký kết hợp đồng dài hạn (12 tháng) hoặc ngắn hạn (6 tháng, 3 tháng).
- Điều 8: - Mỗi chuyến hàng qua Cảng, sau khi đã có những số liệu cần thiết, Cảng phải triệu tập hội nghị gồm các chủ hàng và các thành phần quy định ở điều 4, để đặt kế hoạch cụ thể và phân công thực hiện.
- Điều 9: - Cảng phải đảm bảo chuẩn bị đầy đủ phương tiện, công nhân, cầu tàu, phao dầu, kho, bãi để khi tàu đến, làm ngay được công việc xếp, dỡ, vận chuyển. Nếu Cảng làm chậm trễ những công việc trên đây và gây tổn thất cho chủ hàng thì Cảng phải chịu mọi phí tổn.
- Điều 10: - Các cơ quan như: Cảng vụ, Kiểm nghiệm, Hải quan, Công an biên phòng, Kiểm dịch, Thuế vụ, phải hoàn thành tốt và gọn mọi nhiệm vụ của mình mà không được làm chậm trễ công việc xếp dỡ hàng hoá.
- Điều 11: Hàng hóa qua Cảng phải được gói bọc, trừ những hàng vẫn gửi trần theo tập quán thông thường trong thương mại. Bao bì phải thích hợp với tính chất của hàng và chắc chắn. Đối với hàng xuất khẩu, Cảng có quyền từ chối, không nhận vận chuyển hoặc xếp, dỡ những kiện hàng gói, bọc hoặc bao bì không bảo đảm an toàn trong khi xếp, dỡ và vận chuyển.
- Điều 12: - Để cho Cảng có đủ thì giờ chuẩn bị xếp, dỡ hàng, Công ty đại lý tàu biển, thuyền trưởng các tàu hoặc Tổng cục đường sắt phải báo trước giờ tàu biển hoặc xe lửa tới Cảng theo quy định sau đây:
- Điều 13: - Đối với tàu nước ngoài. Công ty đại lý tàu biển phải cho Cảng biết trước những tài liệu về tàu như dung lượng, chiều dài, mớn nước, số hầm, số cần cẩu, sức cất của cần cẩu, v.v…
- Điều 14: - Việc cung cấp cho Cảng những tài liệu về hàng hóa quy định như sau:
- Chương 3: GIAO NHẬN HÀNG HOÁ
- A. Cảng giao, nhận với tàu.
- Điều 15: - Đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, mỗi khi xếp xuống tàu hoặc dỡ ra khỏi tàu, thì thuyền trưởng và Cảng đều phải cử người cùng kiểm hàng suốt trong thời gian xếp, dỡ. Nếu thuyền trưởng không cử người kiểm hàng, Cảng lập biên bản và yêu cầu Hải quan chứng nhận. Trong trường hợp này, Cảng sẽ kết toán theo tờ kiểm hàng của mình, thuyền trưởng không được khiếu nại. Người kiểm hàng cho tàu, dù là nhân viên của tàu hay là người do tàu thuê, thì cũng đều là người do thuyền trưởng uỷ thác và thay mặt để kiểm hàng.
- Điều 16: - Trước khi dỡ một chuyến hàng nhập khẩu, thuyền trưởng phải cử người cùng với nhân viên của Cảng xem xét tình hình hầm tàu và hàng hóa. Nếu thấy hầm tàu có hiện tượng ẩm ướt, hàng hóa bị hư hỏng hay có dấu vết bị mất mát thì phải lập biên bản để hai bên cùng ký. Nếu đại diện của tàu không chịu ký vào biên bản, thì điều độ viên mời giám định đến xét nghiệm, rồi mới tiến hành dỡ hàng.
- Điều 17: - Khi nhận hàng xuất khẩu, thuyền trưởng phải cử người xem xét tình trạng hàng hóa, và nếu thấy có những bao kiện bị hư hỏng, thì phải báo ngay cho Cảng biết. Kể từ khi đại diện của tàu ký nhận vào giấy xếp hàng, thì Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hóa đã giao cho tàu.
- Điều 18: - Đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, nguyên tắc là Cảng giao, nhận nguyên bao, nguyên kiện, nguyên bó mà không cân. Trọng lượng hàng giao hoặc nhận là trọng lượng ghi ở vận đơn. Đối với hàng rời không đóng bao bì thì tùy theo yêu cầu của chủ hàng, có thể cân khi giao nhận hoặc căn cứ váo mớn nước của tàu để xác định trong lượng. Nếu chủ hàng yêu cầu cân, thì chủ hàng phải chịu phí tổn.
- Điều 19: - Dỡ xong mỗi chuyến hàng nhập khẩu, Cảng và tàu kết toán với nhau.
- Điều 20: - Trong những trường hợp có sự bất đồng ý kiến giữ thuyền trưởng và Cảng về tình trạng hầm tàu, về hàng hóa hư hỏng, mất mát, thì một trong hai bên có thể nhờ giám định xét nghiệm. Giám định phí do bên đã có những nhận định trái với kết luận của giám định chịu.
- Điều 21: - Đối với hàng hóa chuyên chở trong nước, khi xe lửa hoặc tàu đến Cảng, chủ hàng phải làm xong thủ tục giao, nhận hàng thẳng với người xa trưởng hoặc thuyền trưởng, chậm nhất là trong 2 tiếng đồng hồ để công việc xếp, dỡ của Cảng được xúc tiến ngay. Quá thời gian này, sau khi thỏa thuận với thuyền trưởng, Cảng xếp hàng lên tàu hoặc dỡ hàng đưa vào kho, rồi báo cho chủ hàng đến nhận. Chủ hàng phải chịu mọi phí tổn về bảo quản hàng hóa.
- B. Cảng giao hàng cho chủ hàng.
- Điều 22: - a) Khi tới Cảng nhận hàng, chủ hàng phải xuất trình:
- Điều 23: - Hàng nhập khẩu mà Cảng đã nhận với tàu như thế nào thì giao lại cho chủ hàng như thế ấy; nếu có cân khi nhận với tàu, thì khi giao cho chủ hàng cũng phải cân lại: nhận nguyên bao, nguyên kiện, nguyên bó với tàu, thì giao nguyên bao, nguyên kiện, nguyên bó cho chủ hàng. Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hóa ở bên trong, nếu khi giao hàng bao bì tốt, dấu xi và đai còn nguyên vẹn.
- Điều 24: - Khi nhận hàng, chủ hàng phải kiểm soát hàng hoá ngay tại chỗ, nghĩa là tại kho, bãi của Cảng, nếu hàng hóa để ở kho, bãi của Cảng, hoặc tại kho của mình nếu hàng hóa do cảng chuyển thẳng về kho của chủ hàng sau khi dỡ ra khỏi tàu. Cảng không chịu trách nhiệm về những bao, kiện hàng bị hư hỏng, hoặc có dấu vết, hoặc bị mất mát mà chủ hàng phát hiện sau khi đã nhận với Cảng.
- Chương 4: XẾP, DỠ, VẬN CHUYỂN
- Điều 25: - Các tàu có phương tiện để xếp, dỡ phải sử dụng những phương tiện đó để xếp, dỡ hàng hóa. Nếu tàu thiếu phương tiện hoặc không có phương tiện thích hợp, thì cơ quan có trách nhiệm xếp dỡ ghi trong hợp đồng vận tải thuê phương tiện của Cảng.
- Điều 26: - Thuyền trưởng phải lập sơ đồ xếp hàng và chịu trách nhiệm về việc xếp những hàng hóa trên tàu. Suốt trong thời gian xếp, dỡ hàng, thuyền trưởng phải cử người hướng dẫn công nhân xếp, dỡ đúng hồ sơ. Nếu vì thiếu sót của người hướng dẫn, mà việc xếp dỡ phải làm đi làm lại, do đó mà thêm công việc cho công nhân, hoặc để công nhân và thiết bị phải chờ đợi, thì tàu phải bồi thường cho Cảng. Trong trường hợp này Cảng không chịu trách nhiệm nếu việc xếp, dỡ kéo dài quá thời hạn đã định.
- Điều 27: - Đối với những hàng cần phải bảo vệ đặc biệt trong khi xếp, dỡ, người có hàng phải cho Cảng biết rõ đặc điểm của hàng để Cảng có những biện pháp xếp, dỡ thích hợp, và nếu cần, người có hàng phải cử đại diện trực tiếp tham gia hướng dẫn việc xếp, dỡ.
- Điều 28: - Thời gian xếp, dỡ hàng hóa là thời gian hai bên đã thỏa thuận và ghi trong hợp đồng xếp dỡ.
- Điều 29: - Việc xếp, dỡ hàng hóa ở tàu lên kho, bãi của Cảng và ngược lại đều làm khoán, theo một giá biểu do Bộ Giao thông vận tải công bố.
- Điều 30: - Đối với việc Cảng đảm nhiệm việc vận chuyển hàng hóa từ Cảng đến các kho của chủ hàng ở ngoài phạm vi Cảng, và ngược lại, thì áp dụng những thể lệ vận chuyển hàng hóa của Nhà nước hiện nay.
- Chương 5: GỬI HÀNG Ở KHO, BÃI CỦA CẢNG VÀ BẢO QUẢN HÀNG HOÁ
- Điều 31: - a) Cảng nhận để ở kho, bãi tất cả những hàng hóa qua Cảng, trừ những loại hàng sau đây:
- Điều 32: - Thời gian tối đa để hàng ở kho, bãi của Cảng kể từ khi hàng vào kho hoặc vào bãi quy định như sau:
- Điều 33: - Hết hạn gửi kho, bãi ghi trong hợp đồng, nếu chủ hàng không lấy hàng ra thì Cảng báo cho chủ hàng và Công ty đại lý tàu biển biết. Sau khi đã nhận được giấy báo của Cảng, nếu chủ hàng vẫn không đến lĩnh hàng thì trong trường hợp cần thiết, Cảng có quyền di chuyển hàng hóa đến một kho, bãi khác trong phạm vi Cảng, sau khi đã báo cho Hải quan biết, chủ hàng phải chịu mọi phí tổn về việc di chuyển này. Nếu 45 ngày sau khi Cảng đã gửi giấy báo cho chủ hàng biết hàng gửi Cảng đã hết hạn mà chủ hàng vẫn không lấy hàng ra và không có đề nghị gì với Cảng thì Cảng coi là hàng bỏ và lập biên bản giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý.
- Điều 34: - Các chủ hàng đã ký kết hợp đồng dài hạn hoặc ngắn hạn như quy định ở điều 7, mỗi khi có hàng gửi kho; bãi, chỉ cần giao cho Cảng 2 bản giấy khai hàng, trong đó có ghi cụ thể khối lượng hàng và thời gian xin gửi và giấy kiểm nghiệm nếu có.
- Điều 35: - Cảng có trách nhiệm bảo quản tốt tất cả những hàng hóa để ở kho, bãi của Cảng. Nếu hàng hóa bị hư hỏng, mất mát do Cảng bảo quản không chu đáo, thì Cảng có trách nhiệm bồi thường cho chủ hàng.
- Chương 6: BỒI THƯỜNG, THƯỞNG PHẠT
- Điều 36: - a) Cảng Hải-phòng, Công ty đại lý tàu biển, các cơ quan chủ hàng, các cơ quan vận tải, tàu biển và xe lửa đều phải theo đúng những điều quy định trong bản điều lệ này. Nếu cơ quan nào không chấp hành nghiêm chỉnh điều lệ, gây thiệt hai cho cơ quan khác thì bên gây ra thiệt hại phải bồi thường cho bên bị thiệt hại.
- Điều 37: - Trong trường hợp hàng bị mất một phần hoặc có những thiết bị hay máy móc bị mất một vài bộ phận, Cảng phải bồi thường phần bị mất, hoặc phải chịu tất cả những phí tổn mà chủ hàng phải trả để mua hoặc chế tạo bộ phận bị mất; chủ hàng phải nhận số hàng còn lại; giá cả bồi thường số hàng bị mất do hai bên thỏa thuận.
- Điều 38: - Nếu hàng bị hư hỏng, thì căn cứ vào mức độ hư hỏng mà bồi thường, và chủ hàng phải nhận hàng. Tuy nhiên, nếu hàng bị hư hỏng đến mức độ không thể dùng được, thì chủ hàng có quyền không nhận hàng và yêu cầu bồi thường toàn bộ.
- Điều 39: - Trong mọi trường hợp bồi thường thiệt hại đều không bồi thường bằng hiện vật mà bằng tiền. Để tính tiền bồi thường hàng hóa bị mất mát, hư hỏng, đôi bên căn cứ vào giá mua hàng cộng thêm tất cả các khoản chi phí khác, kể cả thuế mà chủ hàng đã phải trả để đưa hàng đến Cảng.
- Điều 40: - Đối với việc xếp, dỡ khoán cũng như các việc làm công nhật khác, nếu vì thiếu sót của chủ hàng hay của tàu, công nhân và phương tiện vận tải, thiết bị của Cảng điều động đến không làm việc được hoặc phải chờ đợi, thì chủ hàng hay tàu phải bồi thường cho Cảng như hợp đồng hai bên đã ký kết hoặc theo quy định trong biểu cảng phí. Ngược lại, nếu Cảng không xếp, dỡ đúng hợp đồng đã ký, gây thiệt hại cho chủ hàng, cho tàu, thì Cảng cũng phải chiếu theo hợp đồng mà bồi thường cho chủ hàng hay cho tàu.
- Điều 41: - Đối với việc xếp, dỡ khoán, nếu hoàn thành trước thời hạn quy định của hợp đồng, thì Cảng được thưởng, và bị phạt nếu làm chậm trễ.
- Điều 42: - Thủ tục về việc bồi thường quy định như sau:
- Chương 7: XỬ LÝ CÁC VỤ TRANH CHẤP
- Điều 43: - a) Mọi tranh chấp giữa Cảng và chủ hàng, giữa cảng và người làm vận tải trong nước về việc thi hành các hợp đồng xếp, dỡ, vận chuyển và bảo quản hàng hóa đều do Hội đồng trọng tài xử lý nếu chủ hàng hoặc người làm vận tải là cơ quan Nhà nước, xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp công tư hợp doanh. Nếu chủ hàng là tư nhân hoặc hợp tác xã thì do Uỷ ban hành chính địa phương giải quyết, và nếu cần thì do Toà án xét xử.
Nghị định số 38-CP ngày 08/03/1962 của Hội đồng Chính phủ Ban hành điều lệ về xếp dỡ, giao nhân, vận chuyển và bảo quản hàng hóa ở Cảng Hải phòng (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 38-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Ngày ban hành: 08-03-1962
- Ngày có hiệu lực: 08-03-1962
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 04-07-1991
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 10710 ngày (29 năm 4 tháng 5 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 04-07-1991
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh