- NGHỊ ĐỊNH BAN HÀNH ĐIỀU LỆ TẠM THỜI QUY ĐỊNH NHỮNG NGUYÊN TẮC XỬ LÝ TRONG VIỆC CHẤP HÀNH CHẾ ĐỘ HỢP ĐỒNG KINH TẾ
- Điều 1. – Nay ban hành, kèm theo nghị định này, bản điều lệ tạm thời quy định những nguyên tắc xử lý trong việc chấp hành chế độ hợp đồng kinh tế giữa các cơ quan Nhà nước, các xí nghiệp quốc doanh và các tổ chức công tư hợp doanh đã làm hạch toán kinh tế.
- Điều 2. – Căn cứ vào điều lệ tạm thời này, các ông Bộ trưởng Bộ Nội thương, Bộ Ngoại thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Kiến trúc, Bộ Công nghiệp nặng, Bộ Công nghiệp nhẹ, các ông Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, Tổng cục Thủy sản, Tổng cục Lương thực, Tổng cục Lâm nghiệp, ông Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Hội đồng trọng tài trung ương và các cơ quan có liên quan để làm điều lệ xử lý trong việc chấp hành chế độ hợp đồng kinh tế của ngành và trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ xét duyệt.
- Điều 3. - Ông Chủ tịch Hội đồng trọng tài trung ương chịu trách nhiệm giải thích và quy định chi tiết thi hành bản điều lệ này.
- Điều 4. - Ông Chủ tịch Hội đồng trọng tài trung ương, các ông Bộ trưởng các Bộ và các ông Tổng cục trưởng các Tổng cục có liên quan, các ông Chủ tịch Ủy ban hành chính khu, thành phố, tỉnh chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
- ĐIỀU LỆ TẠM THỜI QUY ĐỊNH NHỮNG NGUYÊN TẮC XỬ LÝ TRONG VIỆC CHẤP HÀNH CHẾ ĐỘ HỢP ĐỒNG KINH TẾ
- Chương 1: NGUYÊN TẮC CHUNG
- Điều 1. - Bản điều lệ tạm thời này đề ra những nguyên tắc làm cơ sở cho việc xử lý các vụ tranh chấp về từ chối ký kết hợp đồng kinh tế và các vụ vi phạm hợp đồng đã ký kết, nhằm mục đích:
- Điều 2. - Việc xử lý các vụ tranh chấp về từ chối ký kết hợp đồng kinh tế và các vụ vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết phải hết sức nghiêm minh, thận trọng. Trong quá trình xử lý, Hội đồng trọng tài cần chú ý giúp đỡ các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước giải quyết những khó khăn, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các xí nghiệp và cơ quan hữu quan thực hiện tốt hợp đồng kinh tế.
- Chương 2: TRÁCH NHIỆM KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KINH TẾ
- Điều 3. – Sau khi chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước hàng năm hay kế hoạch Nhà nước dài hạn được Hội đồng Chính phủ thông qua, các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước phải tiến hành ký kết ngay các loại hợp đồng kinh tế.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục II Thông tư 1861-KT năm 1962 có hiệu lực từ ngày 05/08/1962
- Điều 4. - Kể từ ngày chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước được Chính phủ thông qua, thời hạn phải hoàn thành việc ký kết các loại hợp đồng kinh tế quy định như sau:
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục II Thông tư 1861-KT năm 1962 có hiệu lực từ ngày 05/08/1962
- Điều 5. - Một hợp đồng kinh tế phải có đủ các điều kiện sau đây mới coi là hợp lệ:
- Điều 6. – Trong trường hợp mà hợp đồng kinh tế không hợp lệ được đưa ra khiếu nại, thì Hội đồng trọng tài vẫn xử lý, đồng thời có thái độ thích đáng đối với cả đôi bên đã ký hợp đồng không theo đúng quy định của Nhà nước.
- Điều 7. - Trường hợp sau đây bị coi là từ chối ký kết hợp đồng kinh tế: bên đề nghị ký đã trực tiếp thương lượng hoặc gửi cho bên kia một bản dự thảo hợp đồng để chuẩn bị việc ký kết, mà bên nhận được đề nghị đã chính thức trả lời không ký, hoặc đưa ra những điều kiện không chính đáng để lảng tránh, hoặc trì hoãn việc ký kết, hoặc đã quá hạn phải ký kết như đã quy định ở điều 4 của bản điều lệ này mà vẫn im lặng không trả lời.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục II Thông tư 1861-KT năm 1962 có hiệu lực từ ngày 05/08/1962
- Điều 8. – Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày biết được thái độ của bên từ chối ký, bên đề nghị ký phải báo cáo lên Hội đồng trọng tài có thẩm quyền, Hội đồng trọng tài này, căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước, căn cứ vào thể lệ đã ban hành và tình hình thực tế của đôi bên, giúp đỡ cho hai bên có thể thỏa thuận để ký kết. Nếu hai bên không thỏa thuận ký kết, thì Hội đồng trọng tài có quyền quyết định nội dung mà hai bên phải ký kết.
- Điều 9. - Đối tượng xử lý của Hội đồng trọng tài là các xí nghiệp quốc doanh, các cơ quan Nhà nước (kể cả Quân đội), và các tổ chức công tư hợp doanh đã thực hiện hạch toán kinh tế.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục II Thông tư 1861-KT năm 1962 có hiệu lực từ ngày 05/08/1962
- Điều 10. - Những hành động sau đây bị coi là vi phạm hợp đồng kinh tế:
- Điều 11. - Bên vi phạm hợp đồng có thể không phải chịu trách nhiệm hoặc được châm chước về trách nhiệm trong những trường hợp sau đây:
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục II Thông tư 1861-KT năm 1962 có hiệu lực từ ngày 05/08/1962
- Điều 12. - Nếu việc vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết giữa hai bên do một xí nghiệp hoặc cơ quan Nhà nước thứ ba gây nên, thì bên vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết vẫn phải chịu trách nhiệm chính với bên cùng ký kết. Nhưng khi xét xử Hội đồng trọng tài cần lưu ý đến sự liên quan này để xử lý được thích đáng.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Mục II Thông tư 1861-KT năm 1962 có hiệu lực từ ngày 05/08/1962
- Điều 13. - Đối với những vụ vi phạm hợp đồng kinh tế phát hiện trong khi đang thực hiện hợp đồng, thì bên bị thiệt hại có thể khiếu nại ngay trong thời hạn là một tháng kể từ ngày bị vi phạm.
- Điều 14. - Trong khi xử lý, Hội đồng trọng tài phải căn cứ vào:
- Chương 3: NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ
Chương này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư 1861-KT năm 1962 có hiệu lực từ ngày 05/08/1962
- Điều 15. - Đối với những vụ vi phạm hợp đồng kinh tế, Hội đồng trọng tài có thể xử lý theo hai biện pháp: biện pháp tài chính và biện pháp hành chính.
- Điều 16. – Hội đồng trọng tài căn cứ vào mức độ cố gắng và mức độ tương trợ hợp tác xã chủ nghĩa của bên vi phạm, mức độ thiệt hại của việc vi phạm hợp đồng, và tỷ lệ so sánh giữa sự thiệt hại và giá trị của hợp đồng, và vào số vốn lưu động của hai bên, để quyết định mức phạt và mức bồi thường một cách thích đáng.
- Điều 17. - Số tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại được trích ở quỹ lưu thông của xí nghiệp hay cơ quan vi phạm hợp đồng kinh tế, và phải hạch toán vào giá thành thực tế của sảm phẩm làm ra. Cuối năm khi xét đến quỹ xí nghiệp, cơ quan có thẩm quyền của các Bộ và các địa phương sẽ căn cứ vào mức độ sai lầm và tổng số tiền phạt vì vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký của đơn vị trực thuộc, để quy định tỷ lệ khấu trừ ở quỹ xí nghiệp mà đơn vị đó được hưởng. Tỷ lệ khấu trừ này không được quá 50% quỹ xí nghiệp.
- Điều 18. - Thời hạn phải trả tiền phạt hay tiền bồi thường thiệt hại vì vi phạm hợp đồng kinh tế là một tháng kể từ ngày có quyết định của Hội đồng trọng tài.
- Chương 4: THỦ TỤC XỬ LÝ
- Điều 19. - Hội đồng trọng tài xử lý khi:
- Điều 20. - Trước khi gửi đơn khiếu nại lên Hội đồng trọng tài có thẩm quyền, bên bị thiệt hại phải trực tiếp thương lượng với bên vi phạm trên tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa. Hội đồng trọng tài chỉ nhận đơn khiếu nại và đưa ra xét xử khi đã có biên bản về việc thương lượng giữa hai bên để giải quyết nhưng không có kết quả.
- Điều 21. - Đơn khiếu nại phải phản ảnh trung thực sự việc, nêu rõ nguyên nhân của việc vi phạm hợp đồng và yêu cầu giải quyết, đồng thời phải kèm theo đầy đủ hồ sơ như: bản sao hợp đồng, biên bản các cuộc họp thương lượng, giấy tờ và các chứng từ cần thiết…
- Điều 22. - Kể từ sau ngày nhận đơn khiếu nại, Hội đồng trọng tài phải tiến hành xét xử trong vòng 20 ngày. Trong từng vụ khiếu nại, nếu Hội đồng trọng tài nhận thấy không thể giải quyết được trong thời hạn quy định trên, thì phải báo cáo lên Hội đồng trọng tài trung ương xin gia hạn, nhưng không được xin gia hạn quá hai lần.
- Điều 23. - Thủ tục xét xử các vụ vi phạm hợp đồng kinh tế hay từ chối ký kết hợp đồng kinh tế quy định như sau:
- Điều 24. - Quyết định của Hội đồng trọng tài phải viết thành văn bản, nội dung gồm:
- Điều 25. - Quyết định của Hội đồng trọng tài có hiệu lực pháp lý.
- Điều 26. - Căn cứ vào đề nghị của các tổ chức hữu quan, hoặc theo đơn khiếu nại của một bên ký kết hợp đồng, hoặc theo sự phát hiện của mình, sau khi thẩm tra, Hội đồng trọng tài trung ương có thể chỉ thị tạm hoãn thi hành quyết định của Hội đồng trọng tài cấp dưới và đưa vụ tranh chấp ra xét lại.
- Điều 27. - Trong quá trình khiếu nại lên Hội đồng trọng tài và sau khi Hội đồng trọng tài đã quyết định mức phạt và bồi thường, hai bên ký kết hợp đồng kinh tế vẫn có nhiệm vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng và ký kết, trừ khi hợp đồng mất hiệu lực vì có quyết định mới của Hội đồng trọng tài có thẩm quyền.
Nghị định số 29-CP ngày 23/02/1962 của Hội đồng Chính phủ Ban hành điều lệ tạm thời quy định những nguyên tắc xử lý trong việc chấp hành chế độ hợp đồng kinh tế (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 29-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Ngày ban hành: 23-02-1962
- Ngày có hiệu lực: 10-03-1962
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 04-07-1991
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 10708 ngày (29 năm 4 tháng 3 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 04-07-1991
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Nghị định số 29-CP ngày 23/02/1962 của Hội đồng Chính phủ Ban hành điều lệ tạm thời quy định những nguyên tắc xử lý trong việc chấp hành chế độ hợp đồng kinh tế (Văn bản hết hiệu lực)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (1)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết (1)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh