- NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH LUẬT CÔNG ĐOÀN SỐ 103-SL/L10 NGÀY 05-11-1957
- Điều 1. - Nghị định này quy định chi tiết thi hành Luật công đoàn về quan hệ giữa các cấp chính quyền. Giám đốc xí nghiệp, thủ trưởng cơ quan Nhà nước và các chủ xí nghiệp tư bản tư doanh với tổ Chức công đoàn, với công nhân, viên chức, nhằm tạo điều kiện cho giai cấp công nhân phát triển và củng cố tổ chức của mình, phát huy tác dụng tích cực của Công đoàn trong công cuộc xây dựng chính quyền, kiến thiết kinh tế, phát triển văn hóa.
- Chương 1: TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN HẠN CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC, QUẢN LÝ XÍ NGHIỆP
- TIẾT 1. - TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM, CÁC LIÊN HIỆP CÔNG ĐOÀN, CÔNG ĐOÀN NGÀNH DỌC VÀ CÔNG ĐOÀN TRỰC THUỘC TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM.
- Điều 2. - Để thực hiện vai trò của tổ chức công đoàn trong việc tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xí nghiệp, mỗi khi họp hội nghị bàn về việc xây dựng và thực hiện kế hoạch Nhà nước, về vấn đề sản xuất, kinh doanh, các cấp chính quyền cần tranh thủ ý kiến và thực hiện sự nhất trí với tổ chức Công đoàn cùng cấp.
- Điều 3. – Trong quá trình thực hiện kế hoạch Nhà nước và các chính sách, luật lệ của Chính phủ, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam căn cứ nguyện vọng của quần chúng lao động, khi xét thấy cần thiết, có thể đề nghị với Chính phủ những ý kiến nhằm bổ sung các chính sách, luật lệ hiện hành, hoặc đề nghị ban hành những chính sách, luật lệ mới liên quan đến quyền lợi và nhiệm vụ của công nhân viên chức.
- TIẾT 2. – CÔNG ĐOÀN Ở CÁC XÍ NGHIỆP NHÀ NƯỚC:
- Điều 4. - Mỗi khi cần giải quyết các vấn đề về kế hoạch sản xuất, kinh doanh, về tổ chức lãnh đạo xí nghiệp, về thực hiện các chính sách liên quan đến nhiệm vụ, quyền lợi của công nhân, viên chức, Giám đốc xí nghiệp cần triệu tập hội nghị có đại biểu công đoàn tham dự để thảo luận các vấn đề trên, trước khi đưa ra trưng cầu ý kiến công nhân, viên chức.
- Điều 5. - Để toàn thể công nhân, viên chức phát huy mọi khả năng, sáng kiến, trực tiếp tham gia quản lý xí nghiệp và thực hiện vai trò giám sát của mình, Giám đốc xí nghiệp có nhiệm vụ thường kỳ báo cáo trước hội nghị công nhân, viên chức hoặc hội nghị đại biểu công nhân, viên chức về kế hoạch sản xuất, kinh doanh, việc sơ kết, tổng kết thực hiện kế hoạch Nhà nước, việc thi hành các chính sách, luật lệ và chế độ lao động.
- Điều 6. – Trong hội nghị nói trên, công nhân, viên chức có quyền thảo luận báo cáo của Giám đốc xí nghiệp để góp ý kiến về mọi mặt hoạt động của xí nghiệp và sự chỉ đạo của Giám đốc, nhận xét, phê bình công tác của Giám đốc.
- Điều 7. – Trong xí nghiệp Nhà nước, khi công nhân viên chức phát hiện những hiện tượng lãng phí, tham ô và những thiếu sót quan trọng làm tổn hại đến quyền lợi chung của Nhà nước, hoặc của công nhân, viên chức, Ban chấp hành công đoàn sau khi xác nhận, có quyền đề nghị với Giám đốc xí nghiệp kiểm tra và thi hành những biện pháp cần thiết để giải quyết. Sau đó Giám đốc xí nghiệp, tùy từng trường hợp, báo cáo kết quả việc thi hành những biện pháp ấy trước Ban chấp hành công đoàn, hoặc trước hội nghị toàn thể hoặc Hội nghị đại biểu công nhân viên chức hoặc trước bộ phận công nhân viên chức có liên quan.
- Điều 8. - Trường hợp cấp bách có thể xảy ra tai nạn nguy hại đến tính mệnh của công nhân, viên chức và đến tài sản của Nhà nước, Ban chấp hành công đoàn có quyền đề nghị Giám đốc xí nghiệp hoặc người phụ trách trực tiếp ra lệnh đình chỉ ngay bộ phận công việc có liên quan và thi hành những biện pháp phòng ngừa cần thiết. Đồng thời, nếu cần, Ban chấp hành công đoàn báo ngay cho cơ quan Lao động địa phương biết.
- TIẾT 3. – CÔNG ĐOÀN Ở CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC:
- Điều 9. - Để mở rộng dân chủ, phát huy mọi khả năng, sáng kiến của cán bộ, viên chức, đảm bảo hoàn thành công tác chuyên môn, thủ trưởng cơ quan phối hợp với Ban chấp hành công đoàn tổ chức những hội nghị cán bộ, viên chức của cả cơ quan hoặc từng bộ phận để nghe và thảo luận báo cáo của thủ trưởng về chương trình công tác của cơ quan, về việc sơ kết, tổng kết thực hiện chương trình công tác của cơ quan, hoặc về việc thi hành các chính sách, luật lệ quan hệ đến đời sống vật chất và văn hóa của cán bộ, viên chức.
- Điều 10. - Đại biểu công đoàn là người thay mặt chính thức cho toàn thể cán bộ, viên chức của cơ quan tham gia những hội nghị do thủ trưởng cơ quan triệu tập để bàn về những biện pháp thực hiện chương trình công tác của cơ quan, việc tổ chức quản trị cơ quan và thi hành các chính sách, luật lệ có quan hệ đến đời sống vật chất và văn hóa của cán bộ, viên chức.
- Điều 11. – Trong cơ quan Nhà nước, khi cán bộ, viên chức phát hiện những hiện tượng lãng phí, tham ô và những thiếu sót quan trọng làm tổn hại đến quyền lợi của Nhà nước hoặc của cán bộ, viên chức, Ban chấp hành công đoàn, sau khi xác nhận, có quyền đề nghị với thủ trưởng cơ quan kiểm tra và thi hành những biện pháp cần thiết để giải quyết. Sau đó thủ trưởng cơ quan tùy từng trường hợp báo cáo kết quả việc thi hành những biện pháp ấy trước Ban chấp hành công đoàn, hoặc trước Hội nghị toàn thể hoặc hội nghị đại biểu cán bộ, viên chức, hoặc trước bộ phận cán bộ, viên chức có liên quan.
- TIẾT 4. - CÔNG ĐOÀN Ở XÍ NGHIỆP TƯ BẢN TƯ DOANH:
- Điều 12. – Trong các xí nghiệp tư bản tư doanh, Ban chấp hành công đoàn giám sát việc thực hiện hợp đồng, thi hành các chính sách, và góp ý kiến với chủ xí nghiệp nhằm thực hiện tốt các hợp đồng đã ký kết, thi hành đúng đắn các chính sách về sản xuất, kinh doanh, các luật lệ và chế độ lao động.
- Điều 13. - Mỗi khi cơ quan Nhà nước thảo luận và định kỳ hợp đồng sản xuất kinh doanh với chủ xí nghiệp tư bản tư doanh thì cơ quan Nhà nước và chủ xí nghiệp phải mời đại biểu công đoàn tham gia. Dự án hợp đồng phải gửi lên Ban chấp hành công đoàn ít nhất là 7 ngày trước khi ký kết.
- Điều 14. – Hàng tháng, Ban chấp hành công đoàn và chủ xí nghiệp tư bản tư doanh họp Hội nghị để kiểm điểm, nhận xét việc thi hành các hợp đồng, các chính sách, luật lệ của Chính phủ về việc sản xuất, kinh doanh, về quyền lợi của công nhân, viên chức trong xí nghiệp.
- Điều 15. – Khi công nhân, viên chức phát hiện những hiện tượng không thi hành đúng những hợp đồng sản xuất, hợp đồng giữa thợ và chủ, điều lệ lao tư hoặc những chính sách khác của Chính phủ,thì Ban chấp hành công đoàn có quyền đề nghị chủ xí nghiệp phải kiểm điểm và đưa ra Hội nghị hiệp thương hoặc Hội nghị công nhân, viên chức để thảo luận và giải quyết. Nếu không giải quyết được thì Công đoàn báo cáo lên cơ quan lao động giải quyết theo luật lệ hiện hành.
- TIẾT 5. – TƯ CÁCH PHÁP NHÂN CỦA CÔNG ĐOÀN:
- Điều 16. – Các tổ chức công đoàn có quyền ký kết hợp đồng, yêu cầu Tòa án xét xử về những việc có liên quan đến quyền lợi và danh dự chung của công nhân, viên chức.
- Chương 2: PHƯƠNG TIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN
- Điều 17. - Để các cấp công đoàn có đủ phương tiện hoạt động, chính quyền các cấp có trách nhiệm cung cấp cho Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, các Liên hiệp công đoàn, các Công đoàn ngành dọc và Công đoàn trực thuộc Tổng Liên đoàn: nhà cửa, đồ đạc, dụng cụ cần thiết và đủ dùng để làm việc, hội họp, giao thông liên lạc và giải trí.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục II Thông tư 26-LĐTT năm 1958 có hiệu lực từ ngày 01/10/1958
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Thông tư 33-LĐ/TT năm 1958 có hiệu lực từ ngày 27/12/1958 - Điều 18. – Căn cứ vào tính chất và khối lượng công tác của từng công đoàn cơ sở và theo tinh thần bảo đảm thì giờ để sản xuất và công tác, nay ấn định số thì giờ và số cán bộ chuyên trách làm công tác công đoàn trong giờ làm việc, ở các xí nghiệp Nhà nước, cơ quan và các xí nghiệp tư bản tư doanh như sau:
- Chương 3: QUỸ CÔNG ĐOÀN
- Điều 19. - Để góp phần vào quỹ công đoàn, Giám đốc xí nghiệp Nhà nước, thủ trưởng cơ quan trường học, chủ xí nghiệp tư bản tư doanh, hiệu trưởng trường tư thục, hàng tháng nộp cho quỹ công đoàn thuộc tài khoản của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam ở Ngân hàng quốc gia Việt Nam, một số tiền gọi là kinh phí công đoàn bằng 2% (hai phần trăm) tổng số tiền cấp phát trong tháng do toàn thể công nhân, viên chức, không phân biệt trong hay ngoài biên chế.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV Thông tư 26-LĐTT năm 1958 có hiệu lực từ ngày 01/10/1958
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư 07-TC/HCP năm 1959 có hiệu lực từ ngày 15/02/1959 - Điều 20 – Những khoản tiền sau đây không kể vào tổng số tiền lương khi tính kinh phí công đoàn:
Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV Thông tư 26-LĐTT năm 1958 có hiệu lực từ ngày 01/10/1958
Điều này được hướng dẫn bởi Mục 1 Thông tư 07-TC/HCP năm 1959 có hiệu lực từ ngày 15/02/1959 - Điều 21. – Đối với những đội công nhân bốc vác đã có tổ chức công đoàn cơ sở và làm thường xuyên cho cơ quan, xí nghiệp, nhận việc khoán, trả theo hợp đồng, theo giá cước, thì đơn vị thuê người bốc vác, ngoài giá cước thường lệ sẽ trả thêm hai phần trăm (2%) để bỏ vào quỹ công đoàn của những đội công nhân ấy. Hàng tháng Ban chấp hành công đoàn cơ sở của những đội này phải nộp số tiền hai phần trăm (2%) này vào tài khoản của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tại ngân hàng địa phương.
- Điều 22. – Kinh phí công đoàn tháng trước phải nộp từ ngày 1 đến ngày 10 tháng sau vào tài khoản của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam ở Ngân hàng quốc gia Việt Nam.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục 2 Thông tư 07-TC/HCP năm 1959 có hiệu lực từ ngày 15/02/1959
- Điều 23. – Quá hạn quy định nói trên mà đơn vị có trách nhiệm chưa nộp đủ kinh phí công đoàn thì Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp báo cho cơ quan Tài chính hoặc Ngân hàng địa phương làm thể thức chuyển khoản số tiền phải nộp từ tài khoản của đơn vị có trách nhiệm sang tài khoản của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.
- Điều 24. – Để đảm bảo nộp kinh phí công đoàn đủ số, Ban chấp hành công đoàn cơ sở có nhiệm vụ kiểm tra các sổ sách giấy tờ có liên quan đến số lượng và tiền lương của công nhân, viên chức của xí nghiệp, cơ quan.
- Điều 25. – Số tiền trợ cấp của Nhà nước nói trong điều 21-d Luật công đoàn, sẽ do Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đề nghị và Bộ Tài chính xét, trình Chính phủ duyệt.
- Điều 26. – Chi tiết về tổ chức, quản lý, sử dụng, dự toán, quyết toán, kiểm tra quỹ công đoàn do Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam ấn định và Thủ tướng Chính phủ xét duyệt.
- ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG
- Điều 27. – Những xí nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng sẽ thi hành Nghị định này như các xí nghiệp Nhà nước nói chung. Nhưng mức độ tham gia quản lý xí nghiệp của công đoàn cơ sở và công nhân viên chức trong một số xí nghiệp đặc biệt của Bộ Quốc phòng sẽ có quy chế riêng thích ứng với những xí nghiệp ấy.
- Điều 28. – Danh từ xí nghiệp nói trong Nghị định này chỉ chung các cơ sở sản xuất, kinh doanh như nhà máy, kho, xưởng, cửa hàng, khách sạn, hầm mỏ, công trường, nông trường, lâm trường.
- Điều 29. – Các ông Bộ trưởng Bộ Lao động, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, ông Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, và ông Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.
Nghị định số 188-TTg ngày 09/04/1958 Hướng dẫn Luật công đoàn 103-SL/L10 về quan hệ giữa các cấp chính quyền do Thủ Tướng ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 188-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Phủ Thủ tướng
- Ngày ban hành: 09-04-1958
- Ngày có hiệu lực: 24-04-1958
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Nghị định số 188-TTg ngày 09/04/1958 Hướng dẫn Luật công đoàn 103-SL/L10 về quan hệ giữa các cấp chính quyền do Thủ Tướng ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (1)
Văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết (4)
- Thông tư số 07-LĐ/TT ngày 03/04/1959 Bổ sung Thông tư 33-LĐ/TT hướng dẫn thi hành Luật công đoàn và Nghị định thi hành Luật công đoàn trong các xí nghiệp, cơ quan trường học Nhà nước và cơ quan, đoàn thể, nhân dân (Tình trạng hiệu lực không xác định) (03-04-1959)
- Thông tư số 07-TC/HCP ngày 31/01/1959 Về việc nộp kinh phí công đoàn (Tình trạng hiệu lực không xác định) (31-01-1959)
- Thông tư số 33-LĐ/TT ngày 27/12/1958 Hướng dẫn thi hành một số điều khoản của Luật Công đoàn và Nghị định của Thủ tướng Chính phủ về việc thi hành Luật Công đoàn trong các xí nghiệp, cơ quan trường học nhà nước và cơ quan đoàn thể Nhân dân (Tình trạng hiệu lực không xác định) (27-12-1958)
- Thông tư số 26-LĐTT ngày 01/10/1958 Hướng dẫn thi hành Luật công đoàn và Nghị định Thủ tướng Chính phủ thi hành Luật công đoàn trong các xí nghiệp tư bản tư doanh (Tình trạng hiệu lực không xác định) (01-10-1958)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh