- A. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
- I. NGƯỜI ĐƯỢC TIẾP NHẬN VÀO TRUNG TÂM CHỮA BỆNH - GIÁO DỤC - LAO ĐỘNG XÃ HỘI
- 1. Việc xác định người nghiện ma túy, người bán dâm được tiếp nhận vào cai nghiện, chữa trị tại Trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội (sau đây gọi tắt là Trung tâm) phải thực hiện theo đúng quy định tại và hướng dẫn tại Thông tư này.
- 2. Người nghiện ma túy, người bán dâm bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh (sau đây gọi tắt là biện pháp đưa vào Trung tâm) bao gồm
- 3. Người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi bị cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm bao gồm
- II. GIẢI THÍCH TỪ NGỮ
- 1. Người vẫn còn nghiện ma túy thuộc điểm 2.1 khoản 2 và khoản 3 mục I phần A được hiểu là người bị phát hiện tiếp tục sử dụng ma túy thuộc một trong các trường hợp sau
- 2. Người bán dâm tái phạm thuộc điểm 2.2 khoản 2 mục I phần A được hiểu là người đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đã chấp hành xong biện pháp đưa vào Trung tâm nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính lại tiếp tục có hành vi bán dâm.
- 3. Người đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng là người được cai nghiện theo Thông tư số 01/2003/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BCA ngày 24/1/2003 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và Bộ Công an về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 56/2002/NĐ-CP ngày 15/5/2002 của Chính phủ quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng.
- 4. Người nghiện ma túy, người bán dâm đã được giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà tái phạm là người thuộc một trong các trường hợp sau
- 5. Người có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật trong thời gian hoãn hoặc tạm đình chỉ là người thành thật hối lỗi, tích cực lao động, học tập, tích cực tham gia các phong trào chung của địa phương, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân từ cấp xã, phường, thị trấn (sau đâu gọi tắt là Uỷ ban nhân dân cấp xã ) trở lên xác nhận.
- 6. Người có tiến bộ rõ rệt trong việc giáo dục, chữa trị tại Trung tâm là người tích cực lao động, học tập, chữa trị, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, quy chế của Trung tâm về chữa trị, cai nghiện, được giám đốc Trung tâm xác nhận.
- 7. Người lập công trong thời gian hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành quyết định là người tố cáo những hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; cứu được tính mạng của người khác; cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể hoặc của người khác có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên; được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc nơi người đó lập công xác nhận; có thành tích đặc biệt xuất sắc trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và được nhận giấy khen của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi tắt là Uỷ ban nhân dân cấp huyện) trở lên; có sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị lớn trong lao động, sản xuất và được cơ quan chức năng từ cấp tỉnh trở lên công nhận.
- 8. Người lập công trong thời gian giáo dục, chữa trị tại Trung tâm là người tố cáo những hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; giúp cơ quan điều tra phát hiện, ngăn ngừa tội phạm, các hành vi trốn khỏi Trung tâm, chống, phá trung tâm; cứu được tính mạng của người khác; cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên và được Giám đốc Trung tâm khen thưởng bằng văn bản; có sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị lớn trong lao động, sản xuất và được cơ quan chức năng từ cấp tỉnh trở lên công nhận.
- 9. Người đang ốm nặng là người đang ở trong tình trạng bệnh nặng đến mức không còn khả năng lao động và sinh hoạt bình thường hoặc đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng và theo chỉ định của bác sĩ phải điều trị trong một thời gian nhất định mới có thể bình phục trở lại.
- 10. Người mắc bệnh hiểm nghèo là người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế là bệnh hiểm nghèo.
- III. THỜI HIỆU ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO TRUNG TÂM VÀ THỜI HIỆU THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH
- 1. Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm là sáu tháng, kể từ khi thực hiện lần cuối hành vi vi phạm theo quy định tại và hướng dẫn tại khoản 2 mục I phần A của Thông tư này. Nếu sau ba tháng kể từ khi thực hiện lần cuối hành vi vi phạm mà người vi phạm không có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý hoặc bán dâm thì không áp dụng biện pháp đưa vào trung tâm.
- 2. Quyết định đưa người nghiện ma tuý, người bán dâm bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm hết thời hiệu thi hành sau một năm, kể từ ngày ra quyết định. Trong trường hợp người bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm cố tình trốn tránh việc thi hành quyết định, thì thời hiệu nói trên sẽ được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh chấm dứt, nghĩa là từ khi người có quyết định đưa vào Trung tâm tự mình đến cơ quan Công an hoặc chính quyền cơ sở nơi người đó cư trú hoặc nơi người đó nhận quyết định đưa vào Trung tâm để trình diện hoặc bị tìm thấy
- B. THỦ TỤC ĐƯA NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY, NGƯỜI BÁN DÂM VÀO TRUNG TÂM
- I . THỦ TỤC ĐƯA NGƯỜI NGHIỆN MA TUÝ, NGƯỜI BÁN DÂM BỊ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO TRUNG TÂM
- 1. Lập hồ sơ đề nghị đưa người vào Trung tâm
- 2. Hội đồng Tư vấn về việc đưa người vào Trung tâm
- 3. Quyết định đưa người vào Trung tâm
- 4. Quản lý, giám sát người đã có quyết định đưa vào Trung tâm
- 5. Thi hành quyết định đưa người vào Trung tâm
- 6. Thủ tục tiếp nhận người nghiện ma tuý, người bán dâm vào chấp hành quyết định cai nghiện, chữa trị tại Trung tâm
- 7. Truy tìm và bắt giữ người đã có quyết định đưa vào Trung tâm bỏ trốn
- 8. Hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào Trung tâm
- 9. Giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại Trung tâm cho người lập công hoặc có tiến bộ rõ rệt
- 10. Tạng đình chỉ chấp hành quyết định hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại Trung tâm cho người bị ốm nặng, phụ nữ có thai và người mắc bệnh hiểm nghèo
- 11. Tạm thời đưa người đang chấp hành quyết định ra khỏi Trung tâm theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự
- 12. Hết thời hạn chấp hành quyết định đưa vào Trung tâm
- II. THỦ TỤC ĐƯA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN NGHIỆN MA TÚY VÀO CAI NGHIỆN BẮT BUỘC TẠI TRUNG TÂM
- 1. Thủ tục lập hồ sơ đưa người chưa thành niên nghiện ma túy vào cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm được thực hiện theo quy định tại các và hướng dẫn tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 mục I phần B của Thông tư này.
- 2. Hồ sơ đề nghị đưa người chưa thành niên nghiện ma túy vào cai nghiện ma túy vào cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm bao gồm
- 3. Quyết định đưa người chưa thành niên nghiện ma túy vào Trung tâm
- 4. Thủ tục tiếp nhận người chưa thành niên nghiện ma túy vào cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm được thực hiện như sau
- III. THỦ TỤC ĐƯA NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY, NGƯỜI BÁN DÂM TỰ NGUYỆN VÀO CAI NGHIỆN, CHỮA TRỊ TẠI TRUNG TÂM
- 1. Thủ tục lập hồ sơ tiếp nhận người nghiện ma túy, người bán dâm tự nguyện vào cai nghiện, chữa trị tại Tung tâm được thực hiện theo quy định tại các và hướng dẫn tại Thông tư này.
- 2. Hồ sơ xét duyệt, tiếp nhận người nghiện ma túy, người bán dâm tự nguyện vào cai nghiện, chữa trị tại Trung tâm gồm
- 3. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ của người nghiện ma túy, người bán dâm tự nguyện xin vào cai nghiện, chữa trị tại Trung tâm, Giám đốc Trung tâm căn cứ vào khả năng tiếp nhận của Trung tâm tiến hành thẩm tra, xét duyệt hồ sơ và ra quyết định tiếp nhận.
- 4. Đối với những trường hợp qua xét duyệt hồ sơ phát hiện người tự nguyện xin vào cai nghiện, chữa trị tại Trung tâm đang bị cơ quan Công an lập hồ sơ đưa vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng hoặc là tội phạm đang bị truy nã, Giám đốc Trung tâm từ chối tiếp nhận và báo ngay cho cơ quan Công an nơi gần nhất biết. Trường hợp Giám đốc Trung tâm đã ra quyết định tiếp nhận mới phát hiện thì hủy quyết định tiếp nhận.
- 5. Thời hạn chữa trị, cai nghiện áp dụng cho người tự nguyện vào cai nghiện, chữa trị tại Trung tâm ít nhất là sáu tháng đối với người nghiện ma túy, ba tháng đối với người bán dâm.
- 6. Căn cứ vào quyết định tiếp nhận của Giám đốc Trung tâm, Trung tâm tổ chức tiếp nhận người nghiện ma túy, người bán dâm vào cai nghiện, chữa trị tự nguyện
- 7. Khi hết thời hạn cai nghiện, chữa trị tự nguyện tại Trung tâm theo quyết định tiếp nhận của Giám đốc Trung tâm, Giám đốc Trung tâm cấp Giấy chứng nhận đã hoàn thành thời gian cai nghiện, chữa trị tự nguyện tại Trung tâm cho người cai nghiện, chữa trị tự nguyện và gửi bản sao Giấy chứng nhận đến Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và gia đình người đó.
- 8. Trường hợp gia đình tự nguyện vào cai nghiện, chữa trị đang có khó khăn đặc biệt, có đơn đề nghị, được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận thì được ra trước thời hạn sáu tháng đối với người nghiện ma túy và ba tháng đối với người bán dâm. Giám đốc Trung tâm cấp Giấy xác nhận thời gian đã cai nghiện, chữa trị tự nguyện tại Trung tâm và gửi bản sao đến Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và gia đình người đó.
- C. ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ VÀ PHỐI HỢP BẢO VỆ ĐẢM BẢO AN NINH TRẬT TỰ TẠI TRUNG TÂM
- I. ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ
- 1. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo an ninh trật tự của Trung tâm được thực hiện theo quy định tại và hướng dẫn tại Thông tư này.
- 2. Giám đốc Trung tâm quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với người nghiện ma túy, người bán dâm có những hành vi vi phạm. Trường hợp Giám đốc vắng mặt thì Giám đốc ủy quyền bằng văn bản cho một Phó giám đốc.
- 3. Giám đốc Trung tâm quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với người nghiện ma túy, người bán dâm đang cai nghiện, chữa trị tại Trung tâm khi họ thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau:
- 4. Các biện pháp cưỡng chế được áp dụng để ngăn chặn hành vi vi phạm bao gồm sử dụng công cụ hỗ trợ và các biện pháp nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật hoặc áp dụng một trong các hình thức kỷ luật theo quy định tại mục II phần C của Thông tư này.
- 5. Khi xảy ra hành vi vi phạm theo quy định tại khoản 3 nêu trên, Trung tâm cần thực hiện các biện pháp giải thích, thuyết phục người có hành vi vi phạm để họ tự nguyện chấm dứt hành vi. Trường hợp người vi phạm vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm, Giám đốc Trung tâm quyết định sử dụng công cụ hỗ trợ và các biện pháp nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật hoặc áp dụng một trong các hình thức kỷ luật quy định tại mục II phần C của Thông tư này để ngăn chặn, chấm dứt hành vi vi phạm.
- 6. Sau khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế để ngăn chặn, chấm dứt hành vi vi phạm, Trung tâm lập biên bản về hành vi vi phạm và lưu vào hồ sơ của người vi phạm. Trường hợp người vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại từ chối ký vào biên bản vi phạm thì cán bộ lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.
- 7. Trường hợp hành vi vi phạm có dấu hiệu của tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự thì Trung tâm có trách nhiệm báo ngay cho các cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
- 8. Việc quản lý, trang bị công cụ hỗ trợ cho cán bộ của Trung tâm và việc sử dụng công cụ hỗ trợ phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về quản lý vũ khí và công cụ hỗ trợ.
- II. CÁC HÌNH THỨC KỶ LUẬT
- 1. Việc áp dụng các hình thức kỷ luật được thực hiện theo quy định tại và hướng dẫn tại thông tư này.
- 2. Giám đốc Trung tâm xét và quyết định áp dụng các hình thức kỷ luật đối với người nghiện ma túy, người bán dâm đang cai nghiện, chữa trị tại Trung tâm trong trường hợp những người này vi phạm nội quy của Trung tâm hoặc có hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 mục I phần C của Thông tư này.
- 3. Các hình thức kỷ luật được áp dụng đối với người nghiện ma túy, người bán dâm đang cai nghiện, chữa trị tại Trung tâm khi có hành vi vi phạm theo quy định tại khoản 2 nêu trên bao gồm phê bình, cảnh cáo và giáo dục tại phòng kỷ luật.
- 4. Giám đốc Trung tâm quyết định áp dụng các hình thức kỷ luật căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi vi phạm của người nghiện ma túy, người bán dâm đang chữa trị, cai nghiện tại Trung tâm. Trường hợp Giám đốc vắng mặt thì Giám đốc ủy quyền bằng văn bản cho một Phó Giám đốc.
- 5. Giám đốc Trung tâm quyết định thành lập Hội đồng Kỷ luật để xem xét, quyết định hình thức kỷ luật.
- III. PHỐI HỢP BẢO VỆ, ĐẢM BẢO AN NINH, TRẬT TỰ TẠI TRUNG TÂM
- 1. Theo đề nghị của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Công an cấp tỉnh tổ chức tập huấn và hướng dẫn nghiệp vụ bảo vệ, bảo đảm an ninh, trật tự cho cán bộ của Trung tâm.
- 2. Trường hợp có tình hình phức tạp về an ninh, trật tự mà cán bộ của Trung tâm không đáp ứng, giải quyết được hoặc do yêu cầu để ổn định tình hình, Trung tâm đề nghị cơ quan công an hỗ trợ giữ gìn an ninh, trật tự cho đến khi tình hình được ổn định.
- 3. Giám đốc Trung tâm báo cáo Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội về nhu cầu cử cán bộ Công an hỗ trợ bảo vệ Trung tâm. Theo đề nghị bằng văn bản của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và xã hội, Giám đốc Công an cấp tỉnh xem xét, quyết định việc cử cán bộ, chiến sỹ của ngành hỗ trợ, phối hợp bảo vệ Trung tâm.
- D. HIỆU LỰC THI HÀNH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
- 1. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Thông tư số 11/TTLT-LĐTBXH-NV-YT ngày 25/5/1996 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 20/CP ngày 13/4/1996 của Chính phủ ban hành quy chế về cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày6/7/1995 và Thông tư số 24/TTLB-LĐTBXH ngày 26/11/1996 hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số điểm tại Thông tư số 11/TTLB-BLĐTBXH-NV-YT ngày 25/5/1996. Những nội dung hướng dẫn trước đây của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Công an trái với Thông tư này đều bãi bỏ.
- 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ Lao động - Thương binh và xã hội và Bộ Công an để có hướng dẫn kịp thời.
Thông tư liên tịch số 22/2004/TTLT-BLĐTBXH-BCA ngày 31/12/2004 giữa Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội và Bộ trưởng Bộ Công an Hướng dẫn Nghị định 135/2004/NĐ-CP về chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 22/2004/TTLT-BLĐTBXH-BCA
- Loại văn bản: Thông tư liên tịch
- Cơ quan ban hành: Bộ Công An, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Ngày ban hành: 31-12-2004
- Ngày có hiệu lực: 27-01-2005
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 1: 03-02-2007
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 21-07-2012
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 2732 ngày (7 năm 5 tháng 27 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 21-07-2012
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Thông tư liên tịch số 22/2004/TTLT-BLĐTBXH-BCA ngày 31/12/2004 giữa Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội và Bộ trưởng Bộ Công an Hướng dẫn Nghị định 135/2004/NĐ-CP về chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh (Văn bản hết hiệu lực)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (2)
- Thông tư liên bộ số 24/TTLB/LĐTBXH-NV-YT ngày 26/11/1996 Sửa đổi Thông tư 11/TTLB/LĐTBXH-NV-YT hướng dẫn NĐ 20/CP về lập hồ sơ, đưa người vào Cơ sở chữa bệnh và phối hợp, bảo vệ, chữa bệnh tại cơ sở chữa bệnh do Bộ Lao động-Thương binh và xã hội-Nội vụ-Y tế ban hành (Văn bản hết hiệu lực) (26-11-1996)
- Thông tư liên bộ số 11/TTLB/LĐTBXH-NV-YT ngày 25/05/1996 Hướng dẫn NĐ 20/CP ban hành Quy chế về cơ sở chữa bệnh theo PL xử lý vi phạm hành chính ngày năm 1995 về lập hồ sơ, đưa người vào cơ sở chữa bệnh và phối hợp bảo vệ chữa bệnh do Bộ Lao động thương binh xã hội-Bộ Nội vụ-Y tế ban hành (Văn bản hết hiệu lực) (25-05-1996)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (3)
- Thông tư liên tịch số 14/2012/TTLT-BLĐTBXH-BCA ngày 06/06/2012 giữa Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội và Bộ trưởng Bộ Công an Hướng dẫn thực hiện Thỏa thuận về Chương trình làm việc trong kỳ nghỉ giữa Việt Nam và Niu Di-lân (06-06-2012)
- Quyết định số 1019/QĐ-BLĐTBXH ngày 09/07/2013 Công bố Danh mục văn bản, quy định pháp luật do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ban hành và liên tịch ban hành hết hiệu lực thi hành tính từ ngày 01/01/2012 đến 31/3/2013 (09-07-2013)
- Quyết định số 1395/QĐ-LĐTBXH ngày 30/09/2015 Công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đến hết ngày 10 tháng 6 năm 2015 (30-09-2015)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (1)
Văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh