237/2016/DSPT: cấp Phúc thẩm hủy án sơ thẩm và đình chỉ vụ án vì cho rằng hết thời hiệu khởi kiện
Thông tin văn bản
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Tỉnh Bạc Liêu
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2014-12-26
Ngày có hiệu lực: 2014-12-26
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Tỉnh Bến Tre
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2014-10-31
Ngày có hiệu lực: 2014-10-31
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Tỉnh Thừa Thiên Huế
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2013-10-28
Ngày có hiệu lực: 2013-10-28
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Tỉnh Kiên Giang
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2013-09-11
Ngày có hiệu lực: 2013-09-11
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Tỉnh Cà Mau
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2009-12-29
Ngày có hiệu lực: 2009-12-29
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Tỉnh Quảng Bình
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2009-08-20
Ngày có hiệu lực: 2009-08-20
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Tỉnh Thừa Thiên Huế
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2017-09-22
Ngày có hiệu lực: 2017-09-22
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Tỉnh Thanh Hóa
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2018-06-12
Ngày có hiệu lực: 2018-06-12
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Tỉnh Cà Mau
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2018-12-28
Ngày có hiệu lực: 2018-12-28
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2021-12-28
Ngày có hiệu lực: 2021-12-28
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Tỉnh Yên Bái
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2021-10-08
Ngày có hiệu lực: 2021-10-08
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2024-06-19
Ngày có hiệu lực: 2024-06-19
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2022-08-29
Ngày có hiệu lực: 2022-08-29
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2024-10-28
Ngày có hiệu lực: 2024-10-28
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2023-09-18
Ngày có hiệu lực: 2023-09-18
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Tỉnh Thái Bình
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2023-10-02
Ngày có hiệu lực: 2023-10-02
Số hiệu văn bản: 2196/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành: Tỉnh Thái Bình
Tình trạng: Đang có hiệu lực
Ngày ban hành: 2024-12-20
Ngày có hiệu lực: 2024-12-20
Xem nội dung vụ việc tại: https://caselaw.vn/ban-an/4GrQaefN15
- Vụ việc, Vụ án: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Loại bản án: Phúc thẩm
- Cơ quan xét xử: TAND cấp tỉnh
- Số hiệu: 237/2016/DSPT
- Ngày tuyên án: 23-02-2016
- Số hiệu bản án bị Phúc thẩm: 193/2015/DSST
- Ngày tuyên án bị Phúc thẩm: 19/06/2015
- Kết quả vụ việc: Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án
---------------------------------------------------------
Mô tả tóm lược:
Ngày 28/12/2004, vợ chồng ông NĐ_Nguyễn Thanh Tú, bà LQ_Tô Tú Trà và vợ chồng ông BĐ_Nguyễn Văn Hà, bà BĐ Lưu Thị Bích Thanh có ký kết hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng đất ở tại số 327/4 Quốc Lộ 13, khu phố 3, phường HBC, quận TĐ với tổng diện tích là 1.358,8m2. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được cập nhật sang tên ông NĐ_Tú, bà LQ_Trà ngày 11/01/2006.
Ngày 16/3/2009, UBND quận TĐ ban hành Quyết định số 2196/QĐ –UBND thu hồi của ông NĐ_Tú diện tích 530,9 m2 đất để thực hiện dự án đường Bình Lợi – Tân Sơn Nhất đường vành đai ngoài. Diện tích đất của ông NĐ_Tú còn lại là 827,9 m2 (1.358,8m2 – 530,9m2 = 827,9m2). Nhưng sau khi ông NĐ_Tú, bà LQ_Trà đi đăng ký cập nhật thì diện tích đất trong giấy chứng nhận của ông bà chỉ còn lại 673,4 m2, thiếu mất 154,5 m2 đất (theo đo đạc trên thực tế là 140,7m2). UBND quận TĐ tiến hành chi trả bổ sung tiền bồi thường bổ sung cho ông BĐ_Hà, bà BĐ_Thanh với diện tích là 345,4 m2 trong đó có 154,5 m2 đất mà trước đây ông NĐ_Tú đã nhận chuyển nhượng của ông BĐ_Hà, bà BĐ_Thanh. Tổng số tiền được bồi thường là 2.564.961.000 đồng.
Ông NĐ_Tú đã liên hệ với ông BĐ_Hà, bà BĐ_Thanh để đòi lại số tiền mà ông được bồi thường, nhưng ông BĐ_Hà, bà BĐ_Thanh không đồng ý. Nay ông NĐ_Tú khởi kiện yêu cầu ông BĐ_Hà, bà BĐ_Thanh phải giao cho ông ½ phần diện tích đất còn thiếu theo thực tế là 70,35m2, do đất đã bị thu hồi nên buộc ông BĐ_Hà, bà BĐ_Thanh phải giao trả bằng tiền là 1.282.480.500 đồng.
Quyết định của Tòa cấp sơ thẩm:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Buộc vợ chồng ông BĐ_Nguyễn Văn Hà, bà BĐ_Lưu Thị Bích Thanh phải có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông NĐ_Nguyễn Thanh Tú, bà LQ_Tô Tú Trà số tiền tương đương với giá trị của phần diện tích đất giao còn thiếu là 1.282.480.500 đồng.
Ngày 20/6/2015, nguyên đơn là ông NĐ_Nguyễn Thanh Tú có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Ngày 24/6/2015, bị đơn là ông BĐ_Nguyễn Văn Hà có đơn kháng cáo toàn bộ bản án. Ngoài ra ông cho rằng Tòa án nhân dân quận TĐ vi phạm Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự về thời hiệu khởi kiện. Theo đó, thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hai năm kể từ ngày ông NĐ_Tú và bà LQ_Trà biết được quyền và lợi ích bị xâm phạm. Ông đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Đề nghị Hội đồng xét xử y án sơ thẩm.
Quyết định của Tòa cấp phúc thẩm:
Hủy án sơ thẩm, đình chỉ vụ án
Lập luận:
- Ngày 28/12/2004, các bên đã ký hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng đất.
- Ngày 11/01/2006, đã cập nhật thay đổi giấy chứng nhận quyền sử hữu nhà ở và quyền sử dụng đất sang tên cho ông NĐ_Tú và bà LQ_Trà.
- Ngày 16/3/2009, UBND quận TĐ ban hành Quyết định số 2196/QĐ-UBND thu hồi của ông NĐ_Tú bà LQ_Trà 530,9m2 đất để thực hiện dự án đường Bình Lợi – Tân Sơn Nhất.
- Ngày 12/6/2009, khi cập nhật đăng ký thay đổi trên giấy chứng nhận do ông NĐ_Tú và bà LQ_Trà đứng tên với diện tích đất còn lại là 673,4m2 thì vào thời điểm này ông NĐ_Tú và bà LQ_Trà biết được ông BĐ_Hà và bà BĐ_Thanh đã giao thiếu cho ông bà 154,5m2 đất mà trước đây ông bà đã nhận chuyển nhượng (theo số liệu của Ban bồi thường giải phóng mặt bằng đo thực tế là 140,7m2). Như vậy đến ngày 12/6/2009 thì ông NĐ_Tú và bà LQ_Trà đã biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nhưng đến ngày 05/02/2013 (tức là 03 năm 8 tháng sau) ông NĐ_Tú và bà Tú mới có đơn khởi kiện tại tòa án.
- Căn cứ theo Điều 23 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự có hướng dẫn: “Đối với tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự (hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất) thì áp dụng thời hiệu quy định trong văn bản quy phạm pháp luật tương ứng đối với loại giao dịch dân sự đó”. Như vậy căn cứ vào Điều 427 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm. Như vậy đơn khởi kiện của ông NĐ_Tú và bà LQ_Trà lập vào ngày 05/02/2013 đã hết thời hiệu khởi kiện.
- Căn cứ Điểm h Khoản 1 Điều 192, Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 nghĩ nên hủy bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận TĐ và đình chỉ giải quyết vụ án do thời hiệu khởi kiện đã hết.
Tài liệu liên quan
Tin tức nổi bật
Cập nhật 24h
Hữu ích