Dự thảo án lệ 23 (đợt 3): Dự thảo án lệ về tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ”.
Án lệ số...... /2017/AL về tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ”.
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày tháng năm 2017và được công bố theo Quyết định số /QĐ-CA ngày tháng năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2013/HSST ngày 17-9-2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về vụ án “Giết người” đối với bị cáo T, sinh năm 1987; trú tại: Thôn C, xã D, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16-12-2012;
Người bị hại: Ông B, sinh năm 1966 (đã chết).
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 1, 2 phần “Xét thấy” của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên.
Khái quát nội dung của án lệ:
- Tình huống án lệ:
Bị cáo cố ý thực hiện hành vi dùng phương tiện giao thông (nguồn nguy hiểm cao độ) đâm vào bị hại, khi thấy bị hại chưa chết lại tiếp tục dùng phương tiện đó đâm bị hại một cách tàn độc cho đến chết với thái độ ngang ngược, hung hãn.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, bị cáo phạm tội Giết người với tình tiết định khung hình phạt là “Có tính chất côn đồ”.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
- Điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 (điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015);
Từ khóa của án lệ:
“Giết người”; “Có tính chất côn đồ”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Gia đình T và gia đình ông B là hàng xóm, cùng trú tại thôn C, xã D, huyện E. Vào ngày 09-12-2011 con trâu của nhà ông B cột ở đường, khi T đi xe máy qua, con trâu đứng dậy làm xe máy của T bị vướng phải dây cột trâu gây tai nạn, làm T bị ngã gẫy chân. Sau đó, gia đình ông B không bồi thường nên T đã khởi kiện ra Tòa án huyện C xét xử tuyên buộc ông B và bà D (là vợ ông B) phải bồi thường cho T 11.500.000 đồng. Từ đó, giữa gia đình ông B và gia đình T thường xảy ra mâu thuẫn, ông B hay chửi và thách thức gia đình T.
Vào khoảng 16 giờ ngày 15-12-2012, T lấy chìa khóa xe ô tô (loại xe DAEWOO GENTRA màu ghi) của anh S (là anh trai của T) treo trên cánh tủ quần áo, T đã tự ý lấy chìa khóa lên xe ô tô đang để ở nhà bố mẹ T điều khiển xe chạy từ nhà ra đường tỉnh lộ 1 thuộc thôn C, xã D, huyện E để tập lái. Khi T đi xe ô tô đến đoạn đường cách tỉnh lộ 1 khoảng 100m thì gặp ông B chạy xe mô tô đi ngược chiều. Lúc đó, ông B chạy xe đi thẳng hướng vào đầu xe ô tô do T đang điều khiển, khi đến gần xe ô tô ông B chạy xe lách qua phải rồi dùng tay đập vào chiếc gương chiếu hậu bên trái của xe ô tô làm cho miếng kính của chiếc gương chiếu hậu bên trái bị rơi xuống đường. Thấy vậy, T bực tức nên đã chạy xe ô tô đuổi theo xe mô tô của ông B (mục đích để nói chuyện phải trái về việc ông B đập hỏng gương), nhưng không đuổi kịp. T chạy xe ô tô quay lại, tìm nhặt miếng kính của gương chiếu hậu. Lúc này, ông B chạy xe mô tô đi quay lại chỗ T, ông B lại dùng tay đập vào gương chiếu hậu một lần nữa nhưng không trúng và chửi T: “Đ.Mẹ! Tao làm vậy, thằng nào làm gì được tao”, rồi chạy xe theo hướng ra đường tỉnh lộ 1. Bực tức, T lên xe ô tô lái xe đuổi theo ông B, chạy được khoảng 01 km, do đường xấu ông B giảm tốc độ thì xe ô tô do T điều khiển đã tông vào phía sau xe máy của ông B làm ông B bị hất lên nóc ca bô xe ô tô rồi văng sang lề đường bên phải, xe mô tô bị xe ô tô kéo lê dưới đường 29m rồi văng ra mé đường bên phải, xe ô tô tiếp tục chạy một đoạn rồi tông vào đuôi xe tải đi cùng chiều thì dừng lại. T mở cửa, xuống xe, quay lại nhìn thấy ông B đang nằm dưới đường. T nảy sinh ý định sẽ quay xe lại tông ông B nên T lên xe ô tô điều khiển xe quay đầu lại, nhìn thấy ông B đang bò để đứng dậy, T liền điều khiển xe ô tô đâm thẳng vào người ông B, bị bánh xe ô tô đè qua người ông B gục xuống đường và được mọi người đưa đi cấp cứu nhưng đã chết. Còn T đã chạy xe ngang qua nhà ông B hô lên: “Tôi tông chết chồng bà ở ngoài kia kìa” rồi T lái xe ô tô đến Công an huyện C đầu thú.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 90 ngày 03-01-2013 của giám định viên pháp y Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk đã kết luận nguyên nhân tử vong của ông B là: Đa thương tích đầu, mặt, lưng, bụng, tứ chi gây tổn thương dập vỡ gan phải toàn bộ dẫn đến choáng mất máu và suy tuần hoàn không hồi phục.
Tại bản cáo trạng số 39/KSĐT-HS ngày 17-06-2013, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo T về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, cơ bản đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, cũng như nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố tại phiên tòa.
Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, đối với hành vi phạm tội của bị cáo và xác định: Do gia đình ông B có mâu thuẫn với gia đình bị cáo từ trước về vụ án dân sự đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, do vậy khi ông B chạy xe mô tô và dùng tay đập vào gương chiếu hậu bên trái của xe ô tô do bị cáo đang điều khiển làm rơi kính chiếu hậu, sau đó ông B tiếp tục quay lại dùng tay đập vào gương chiếu hậu một lần nữa nên bị cáo đã bực tức điều khiển xe ô tô tông vào phía sau xe máy của ông B làm ông B bị ngã xuống đường, thấy ông B đang bò dậy T tiếp tục lái xe đâm và cán lên người ông B làm ông B tử vong. Do đó, Viện kiểm sát xác định ông B có lỗi, nên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự để xử phạt: T 13-14 năm từ về tội “Giết người”.
Quan điểm bào chữa của các luật sư cho rằng:
Việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 BLHS là đúng vì có nguyên nhân mâu thuẫn từ trước và ông B là người có lỗi, đồng thời bị cáo có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, khai báo thành khẩn, đã tác động gia đình nộp bồi thường cho gia đình người bị hại 70.000.000đ, nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quan điểm của người bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại cho rằng:
Bị cáo phạm tội một cách côn đồ hung hãn, bị cáo đã dùng ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ để làm phương tiện, tông vào người ông B nhiều lần, với quyết tâm tới cùng phải giết chết ông B và sau khi đã tông chết ông B, bị cáo còn điểu khiển xe về nhà ông B hô to nhiều lần “Tôi đã tông chết chồng bà rồi đó, giờ về tôi tông chết mấy thằng con bà”, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93 và điểm e, h khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo tử hình.
Đại diện Viện kiểm sát và các luật sư đều giữ nguyên quan điểm của mình, tuy nhiên đại diện Viện kiểm sát chấp nhận một phần quan điểm của trợ giúp viên pháp lý để áp dụng thêm tình tiết tăng nặng “Cố tình thực hiện tội phạm tới cùng”, theo điểm e khoản 1 Điều 48 BLHS đối với bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.
Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và các luật sư cho rằng, do gia đình bị cáo và gia đình ông B có mâu thuẫn trong vụ án dân sự, kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và ông B đã dùng tay đập rớt kính chiếu hậu xe ô tô của bị cáo khi đang lưu thông trên đường dẫn đến bị cáo bực tức điều khiển xe ô tô và rơi xuống đường, sau đó bị cáo tiếp tục lái xe quay lại cán lên người ông B để giết ông B, nên ông B là người có lỗi, theo đó Viện kiểm sát chỉ truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 BLHS là chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cũng như chưa thể hiện đúng ý thức và hành vi khách quan của bị cáo. Bởi lẽ, căn cứ vào lời khai của bị cáo tại các bút lục 63, 65, 71, 72, 78, 81, 82, 84 và lời khai của những người làm chứng (tại BL 96, 97, 98, 100, 102, 128…) thì: Tính côn đồ hung hãn được xác định bằng hành vi và thái độ của bị cáo khi gây án (từ thời điểm sau khi tông lần 1), vì sau khi bị cáo điều khiển xe ô tô tông thẳng vào xe máy của ông B và hất ông B lên cabô xe ô tô, rồi ông B bị hất văng vào lề đường bên phải, xe ô tô bị cáo tiếp tục kéo lê xe máy của ông B 29m, đến khi tông vào đuôi một chiếc xe ô tô tải cùng chiều thì xe bị cáo tắt máy, dừng lại. Khi xe dừng lại, bị cáo đã xuống xe nhìn ông B đang rên la, cố gượng dậy để giành lấy sự sống, nhưng với mục đích và quyết tâm giết chết ông B bằng được để trả thù. Vì vậy, bị cáo đã dùng ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội một cách tàn độc. Bị cáo đã lạnh lùng lên xe, nổ máy, vào số 1 quay đầu xe, đạp ga và tăng tốc để xe cán và chà xát lên thân thể ông B, gây ra cái chết thương tâm, tức tưởi cho nạn nhân. Sau khi đã giết chết ông B, để thỏa mãn về mục đích đã giết chết ông B, nên bị cáo đã tỏ rõ thái độ cực kỳ ngang ngược và tàn nhẫn, bình tĩnh chạy xe qua nhà người bị hại, hô to: “Tôi tông chết chồng bà ở ngoài kia kìa”. Hành vi này của bị cáo đã gây lên sự kinh hoàng và nỗi đau đớn, uất ức cho gia đình bị hại và một lần nữa thể hiện sự tàn độc, tính côn đồ hung hãn và tính coi thường quyền được sống của con người một cách cao độ.
Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo T phạm tội “Giết người”, với tình tiết định khung hình phạt là “Có tính chất côn đồ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS.
Điều 93 BLHS quy định:
1.Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
n) Có tính chất côn đồ;
Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hậu quả do tội ác của bị cáo gây ra không những đã tước đoạt đi quyền sống của ông B một cách tàn ác, mà còn gây tổn thương nặng nề về mặt tinh thần đối với gia đình người bị hại, đồng thời gây nên sự căm phẫn của quần chúng nhân dân trong địa bàn huyện C nói riêng và trong tỉnh Đắk Lắk nói chung, gây ảnh hưởng cực kỳ xấu đến trật tự trị an xã hội.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nhận định trên. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc để buộc bị cáo phải cách ly không thời hạn đối với đời sống xã hội thì mới tương xứng với hành vi và hậu quả do bị áo gây ra, Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, khai báo thành khẩn, đã tác động gia đình nộp bồi thường cho gia đình người bị hại 70.000.000đ (tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk). Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, như vậy cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội và thể hiện tính khoan hồng nhân đạo của pháp luật nhà nước ta.
- Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi ông B chết, gia đình người bị hại đã kê khai chi phí mai táng và yêu cầu bị cáo phải bồi thường là: 162.959.000đ; tiền cấp dưỡng đối với bà A (là mẹ ông B), cháu P (là con của ông B) và bồi thường tổn thất về tinh thần theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ; tài liệu và yêu cầu của gia đình người bị hại, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho gia đình bà D các khoản sau:
1.Tiền viện phí, thuê xe đi cấp cứu: 1.259.000đ;
2.Chi mua hòm, thuốc hoc môn: 37.000.000đ;
3.Chi thuê người khâm liệm: 2.000.000đ;
4.Chi may tang phục, điếu nhạc: 10.400.000đ;
5.Chi vải vóc tẩm liệm, đèn hương: 10.300.000đ;
6.Tổn thất về tinh thần: 60 tháng lương x 1.150.000đ = 69.000.000đ;
7. Thiệt hại xe mô tô: 3.000.000đ.
Tổng cộng là: 132.959.000đ. Được khấu trừ số tiền 70.000.000đ do gia đình bị cáo đã nộp bồi thường tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk. Buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho gia đình bà D số tiền còn lại là: 62.959.000đ.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 70.000.000đ do gia đình bị cáo đã nộp bồi thường tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk, để đảm bảo thi hành án.
Hàng tháng bị cáo phải bồi thường tiền cấp dưỡng cho con của ông B là P (sinh ngày 03-10-1996) 600.000đ/tháng. Thời gian bồi thường tiền cấp dưỡng, tính từ tháng 12-2012 cho đến khi cháu P tròn 18 tuổi.
Hàng tháng bị cáo phải bồi thường tiền cấp dưỡng cho mẹ của ông B là bà A (sinh năm 1929) 600.000đ/tháng. Thời gian bồi thường tiền cấp dưỡng, tính từ tháng 12-2012 cho đến khi bà A chết.
Tịch thu 01 quần dài vải màu đen, 01 áo sơ mi dài tay nam màu hồng, 01 phong bì niêm phong, không còn giá trị sử dụng, để tiêu hủy.
Trả cho anh S chiếc xe ô tô và trả cho bà D 01 xe mô tô.
(Đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Giết người”.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và điểm e khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo: T 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 16-12-2012.
- Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 41, Điều 42 BLHS; Điều 76 BLTTHS và Điều 610 BLDS:
Buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho gia đình bà D số tiền còn lại là 62.959.000đ.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 70.000.000đ do gia đình bị cáo đã nộp bồi thường tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk, để đảm bảo thi hành án.
Hàng tháng bị cáo phải bồi thường tiền cấp dưỡng cho con của ông B là P (sinh ngày 03-10-1996) 600.000đ/tháng. Thời gian bồi thường tiền cấp dưỡng, tính từ tháng 12-2012 cho đến khi cháu Phan Rô Pip tròn 18 tuổi.
Hàng tháng bị cáo phải bồi thường tiền cấp dưỡng cho mẹ của ông B là bà A (sinh năm 1929) 600.000đ/tháng. Thời gian bồi thường tiền cấp dưỡng, tính từ tháng 12-2012 cho đến khi bà A chết.
Tịch thu 01 quần dài vải màu đen, 01 áo sơ mi dài tay nam màu hồng, 01 phong bì niêm phong, không còn giá trị sử dụng, để tiêu hủy.
Trả cho anh S chiếc xe ô tô và trả cho bà D chiếc xe mô tô.
- Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 3.147.950đ án phí dân sự sơ thẩm.
Áp dụng khoản 2 Điều 305 BLDS, để tính lãi suất đối với số tiền bị cáo chưa thi hành án xong.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án./.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“Tính côn đồ hung hãn được xác định bằng hành vi và thái độ của bị cáo khi gây án (từ thời điểm sau khi tông lần 1), vì sau khi bị cáo điều khiển xe ô tô tông thẳng vào xe máy của ông B và hất ông B lên cabô xe ô tô, rồi ông B bị hất văng vào lề đường bên phải, xe ô tô bị cáo tiếp tục kéo lê xe máy của ông B 29m, đến khi tông vào đuôi một chiếc xe ô tô tải cùng chiều thì xe bị cáo tắt máy, dừng lại. Khi xe dừng lại, bị cáo đã xuống xe nhìn ông B đang rên la, cố gượng dậy để giành lấy sự sống, nhưng với mục đích và quyết tâm giết chết ông B bằng được để trả thù. Vì vậy, bị cáo đã dùng ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội một cách tàn độc. Bị cáo đã lạnh lùng lên xe, nổ máy, vào số 1 quay đầu xe, đạp ga và tăng tốc để xe cán và chà xát lên thân thể ông B, gây ra cái chết thương tâm, tức tưởi cho nạn nhân. Sau khi đã giết chết ông B, để thỏa mãn về mục đích đã giết chết ông B, nên bị cáo đã tỏ rõ thái độ cực kỳ ngang ngược và tàn nhẫn, bình tĩnh chạy xe qua nhà người bị hại, hô to: “Tôi tông chết chồng bà ở ngoài kia kìa”. Hành vi này của bị cáo đã gây lên sự kinh hoàng và nỗi đau đớn, uất ức cho gia đình bị hại và một lần nữa thể hiện sự tàn độc, tính côn đồ hung hãn và tính coi thường quyền được sống của con người một cách cao độ.
Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo T phạm tội “Giết người”, với tình tiết định khung hình phạt là “Có tính chất côn đồ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS.”.
(nguồn Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn) )
Tin tức nổi bật
Cập nhật 24h
Hữu ích