MỚI Ra mắt Giao diện mới cho trang Tra cứu mã HS – nhanh và thuận tiện Trải nghiệm ngay
Mới cập nhật
17/07/2017

Dự thảo án lệ 25 (đợt 3): Dự thảo án lệ về nghĩa vụ cấp dưỡng theo di chúc

Tác giả: CaselawVN

Án lệ số /2017/AL về nghĩa vụ cấp dưỡng theo di chúc

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày… tháng … năm 2017 và được công bố theo Quyết định số …/QĐ-CA ngày … tháng … năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 39/2006/DS-GĐT ngày 06-11-2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án dân sự “tranh chấp về thừa kế tài sản” tại tỉnh Cà Mau giữa nguyên đơn là bà Huỳnh Kim H (đã chết năm 2000), bà Trương Thị D ủy quyền cho chị Tạ Thu A với bị đơn là ông Tạ Đ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các con của bà Tạ Thị T (Lý Ngọc T, Lý H, Lý B, Lý B1 và Lý Ngọc X), các con của ông Tạ Tòng Đ (Tạ Thị B, Tạ Xiếu L, Tạ Văn B), các con của ông Tạ Tòng M (Tạ Tống H, Tạ Nguyệt T, Tạ Nguyệt N), các con của bà Tạ Thị S (Phan Ngọc A, Phan Ngọc H, Phan Ngọc K), các con ông Tạ Văn T (Tạ Thu L, Tạ Thu C, Tạ Thu V, Tạ Thu T, Tạ Thanh T1, Tạ Lâm H, Tạ Lâm T, Tạ Thu P, Tạ Thanh T2), các con của bà Tạ Thị S (Ngô Thị Ê, Ngô Văn L, Ngô Văn S, Ngô Thị H, Ngô Thị T, ông Tạ Quang H, bà Tạ Kim C, chị Tạ Thu A, ông Tạ Phước C, bà Tạ Thanh Đ, bà Tạ Thanh T3.

Vị trí nội dung án lệ:

Đoạn 3 phần “Xét thấy” của quyết định giám đốc thẩm nêu trên.

Khái quát nội dung của án lệ:

- Tình huống án lệ:

Di chúc có nội dung yêu cầu người được hưởng di sản thừa kế phải nuôi dưỡng, cấp dưỡng cho người không được hưởng di sản thừa kế. Người không được hưởng di sản thừa kế yêu cầu người được hưởng di sản thừa kế nuôi dưỡng, cấp dưỡng vượt quá khả năng và điều kiện thực tế của người được hưởng di sản thừa kế.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, người được hưởng di sản thừa kế chỉ có nghĩa vụ cấp dưỡng trong phạm vi kỷ phần thừa kế mà người được cấp dưỡng được hưởng nếu chia thừa kế theo pháp luật.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

Điều 687 Bộ luật dân sự năm 1995, (Điều 684 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 659 Bộ luật dân sự năm 2015);

Điều 653 Bộ luật dân sự năm 1995, (Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 628, 630 Bộ luật dân sự năm 2015);

Điều 676 Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 673 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 648 Bộ luật dân sự năm 2015).

Từ khóa của án lệ:

“Thừa kế”; “Di chúc”; “Phân chia di sản theo di chúc”; “Giải thích nội dung của di chúc”.

 

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 28-6-1994 và các lời khai tại Tòa án, bà Huỳnh Kim H, bà Trương Thị D, chị Tạ Thu A và ông Tạ Đ trình bày như sau:

Cụ Tạ T có 3 người vợ gồm:

- Người vợ thứ nhất là cụ Quách Tú P (chết cách đây khoảng 70 năm) có 5 người con là: bà Tạ Thị T (chết năm 1994), ông Tạ Tòng Đ (chết năm 1993), ông Tạ Tòng M (chết năm 1965), bà Tạ Thị S (chết năm 1982), bà Tạ Thị S1 (chết).

- Người vợ thứ 2 là cụ Trương Mỹ D (chết cách đây khoảng 30 năm) có 3 người con là bà Tạ Kim K (chết năm 1990, không có chồng con), ông Tạ Phước C (cư trú tại Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ), bà Tạ Kim C.

- Người vợ thứ 3 là cụ Lâm Thị K (chết năm 1993) có 5 người con là: ông Tạ Văn T (chết năm 1984, có vợ là bà Trương Thị D và 10 người con), ông Tạ Quang H, ông Tạ Đ, bà Tạ Thanh Đ (cư trú tại Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ), bà Tạ Thanh T3 (cư trú tại Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ).

Bà Huỳnh Kim H là con riêng của cụ Lâm Thị K và bà Huỳnh Kim H ở cùng cụ Tạ T từ lúc 9 tuổi.

Năm 1957 cụ Tạ T và cụ Lâm Thị K tạo dựng được căn nhà trên diện tích đất 51,61m2 tại số 9 đường A, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau (là tài sản đang có tranh chấp trong vụ án). Năm 1966 cụ Tạ T chết không để lại di chúc, ngày 27-7-1987 cụ Lâm Thị K lập di chúc để lại toàn bộ nhà đất trên cho ông Tạ Đ làm nơi phủ thờ tổ đường, nhưng với điều kiện là ông Tạ Đ “phải có trách nhiệm khi cụ Lâm Thị K chết phải đưa thi thể cụ về Bạc Liêu hỏa táng và phải nuôi dưỡng bao bọc bà Huỳnh Kim H đến khi bà H qua đời”. Năm 1993 cụ Lâm Thị K chết, bà Huỳnh Kim H cho rằng ông Tạ Đ không thực hiện đúng di chúc của cụ Lâm Thị K, đã nhiều lần ông Tạ Đ đánh đập bà Huỳnh Kim H (bà đã báo cáo hội phụ nữ phường và Công an phường), do vậy bà yêu cầu phải chu cấp cho bà mỗi tháng 1.000.000đồng, nhưng ông Tạ Đ chỉ đồng ý cấp cho bà 300.000đồng một tháng. Từ đó bà Huỳnh Kim H khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Lâm Thị K theo pháp luật.

Bà Trương Thị D (là vợ) và các con của ông T xin được hưởng kỷ phần thừa kế của ông T.

Ông Tạ Đ không đồng ý chia thừa kế, mà đề nghị tiếp tục chăm sóc bà Huỳnh Kim H theo di chúc của cụ Lâm Thị K.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 25/DSST ngày 29-12-1995, Tòa án nhân dân tỉnh Minh Hải (cũ) quyết định:

Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của bà Huỳnh Kim H và Trịnh Thị D.

Công nhận căn nhà số 9 đường A, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau là di sản của ông T và bà K, trị giá 206.437.000đồng.

Công nhận 15 kỷ phần được hưởng phần thừa kế của ông Tạ T là: Tạ Tăng T, Tạ Tòng Đ, Tạ Tòng M, Tạ Thị S, Tạ Thị S1, Tạ Kim K, Tạ Phước C, Tạ Kim C, Tạ Văn T, Tạ Quang H, Tạ Thanh Đ, Tạ Đ, Tạ Thanh T3, Huỳnh Kim H, Lâm Thị K (vợ ông T). Mỗi kỷ phần được hưởng 6.881.233 đồng.

6 kỷ phần được hưởng phần thừa kế của ông Tạ Tăng như kể trên và bà Lâm Thị K là: Tạ Văn T, Tạ Quang H, Tạ Thanh Đ, Tạ Đ, Tạ Thanh T3, Huỳnh Kim H. Mỗi kỷ phần là 25.231.188đồng.

Giao căn nhà số 9 Phan Chu Trinh, phường 2 cho Tạ Đ quản lý và các kỷ phần thừa kế chưa có yêu cầu và những kỷ phần có ủy quyền cho Tạ Đ quản lý, giao ông Tạ Đ quản lý sau này các kỷ phần thừa kế có yêu cầu được nhận kỷ phần thừa kế thì ông Tạ Đ có trách nhiệm giao lại cho họ.

Buộc ông Tạ Đ phải thanh toán kỷ phần cho bà Huỳnh Kim H là 25.231.188đồng và bà Trương Thị D là 25.231.188 đồng. Tổng 2 khoản bằng 50.462.376 đồng khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Tại Quyết định số 06/QĐ-DS ngày 09-01-1996, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Minh Hải (cũ) kháng nghị bản án số 25/DSST ngày 29-12-1995 của Tòa án nhân dân tỉnh Minh Hải (cũ).

Ngày 15-1-1996 bà Huỳnh Kim H có đơn yêu cầu sớm thi hành án.

Ngày 12-01-1996 ông Tạ Đ có đơn kháng cáo không đồng ý với các quyết định của bản án sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 124/DSPT ngày 27-7-1996, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của bà Huỳnh Kim H và bà Trần Thị D, công nhận căn nhà số 09 đường A, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau là di sản của ông T và bà K trị giá 206.437.000đồng, công nhận 14 kỷ phần được hưởng thừa kế của ông Tăng là: Tạ Tăng T, Tạ Tòng Đ, Tạ Tòng M, Tạ Thị S, Tạ Thị S1, Tạ Phước C, Tạ Kim C, Tạ Văn T, Tạ Quang H, Tạ Thanh Đ, Tạ Đ, Tạ Thanh T3, Huỳnh Kim H, Lâm Thị K. Mỗi kỷ phần được hưởng 7.444.178đồng; 6 kỷ phần được hưởng phần thừa kế của bà Lâm Thị K và ông Tạ T là: Tạ Văn T, Tạ Quang H, Tạ Thanh Đ, Tạ Đ, Tạ Thanh T3, Huỳnh Kim H. Mỗi kỷ phần được hưởng 18.443.779 đồng.

Giao căn nhà số 09 đường A, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau và các kỷ phần thừa kế không có yêu cầu hoặc ủy quyền cho ông Tạ Đ.

Ông Tạ Đ phải thanh toán cho bà Huỳnh Kim H 25.888.957 đồng, cho bà Trần Thị D (con là Tạ Thu A) 25.888.957đồng.

Ngoài ra Tòa án cấp phúc thảm còn quyết định về án phí và điều kiện thi hành án.

Tại Công văn số 02 ngày 04-12-1996, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Minh Hải (cũ) đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm số 124/DSPT ngày 27-7-1996 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Quyết định số 17/KL-DS ngày 10-3-1997, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm số 25/DSST ngày 29-12-1995 của Tòa án nhân dân tỉnh Minh Hải (cũ) và bản án phúc thẩm nêu trên của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Quyết định số 45/UBTP-DS ngày 27-8-1997, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án cho đến khi có quy định mới của Ủy ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01-7-1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án phúc thẩm dân sự nêu trên của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 25/DSST ngày 29-12-1995 của Tòa án nhân dân tỉnh Minh Hải (cũ); Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định:

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định đúng di sản của cụ Tạ T và cụ Lâm Thị K là có căn nhà số 9 đường A, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Do cụ Tạ T chết không có di chúc nên đã xác định phần tài sản của cụ là di sản để chia cho vợ và các con của cụ theo pháp luật về thừa kế là có căn cứ, đúng pháp luật.

Năm 1993 cụ Lâm Thị K chết, nhưng ngày 27-7-1987 cụ đã lập di chúc để định đoạt toàn bộ căn nhà giao cho ông Tạ Đ quản lý thờ cúng với điều kiện sau khi cụ Lâm Thị K chết phải “đưa thi thể cụ về Bạc Liêu hỏa táng và phải nuôi dưỡng bao bọc bà H đến khi bà H qua đời”. Di chúc nêu trên của cụ Lâm Thị K có các nhân chứng và chính quyền địa phương xác nhận; do đó, di chúc này hợp pháp đối với phần tài sản của cụ Lâm Thị K.

Trong thực tế, sau khi cụ Lâm Thị K chết ông Tạ Đ đã thực hiện yêu cầu “nuôi dưỡng bao bọc bà H”, nhưng bà Huỳnh Kim H lại có yêu cầu vượt quá khả năng và điều kiện thực tế của ông Tạ Đ. Trong trường hợp này khi có tranh chấp giữa bà H và ông Tạ Đ, Tòa án công nhận di chúc đối với phần tài sản của cụ Lâm Thị K và chỉ buộc ông Tạ Đ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho bà H trong phạm vi kỷ phần mà bà được hưởng nếu chia thừa kế di sản của cụ Lâm Thị K theo pháp luật. Việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng ông Tạ Đ không thực hiện nghĩa vụ “nuôi dưỡng bao bọc bà H” từ đó không công nhận di chúc của cụ Lâm Thị K và chia thừa kế di sản của cụ Lâm Thị K theo pháp luật là không đúng.

Đối với yêu cầu của bà Trương Thị D và các con của bà xin được hưởng kỷ phần thừa kế của ông T, nếu có được giải quyết trong cùng vụ án thì phải thụ lý theo đúng quy định của pháp luật.

Do vụ án đã bị tạm đình chỉ việc giải quyết từ năm 1997; do đó, cần xác định có việc thay đổi các đương sự hay không và yêu cầu của họ thì mới có cơ sở giải quyết vụ án.

Ngoài ra, khi Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án thì có một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang định cư ở nước ngoài nên cần xác định về Quốc tịch và yêu cầu họ thì mới đủ cơ sở giải quyết vụ án theo đúng quy định tại Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH 11 ngày 27-7-2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01-7-1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 124/DSPT ngày 27-7-1996 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 25/DSST ngày 29-12-1995 của Tòa án nhân dân tỉnh Minh Hải (cũ) về vụ án tranh chấp thừa kế tài sản giữa nguyên đơn là bà Huỳnh Kim H và bà Trương Thị D với bị đơn là ông Tạ Đ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

NỘI DUNG ÁN LỆ:

“Trong thực tế, sau khi cụ Lâm Thị K chết ông Tạ Đ đã thực hiện yêu cầu “nuôi dưỡng bao bọc bà H”, nhưng bà Huỳnh Kim H lại có yêu cầu vượt quá khả năng và điều kiện thực tế của ông Tạ Đ. Trong trường hợp này khi có tranh chấp giữa bà H và ông Tạ Đ, Tòa án công nhận di chúc đối với phần tài sản của cụ Lâm Thị K và chỉ buộc ông Tạ Đ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho bà H trong phạm vi kỷ phần mà bà được hưởng nếu chia thừa kế di sản của cụ Lâm Thị K theo pháp luật. Việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng ông Tạ Đ không thực hiện nghĩa vụ “nuôi dưỡng bao bọc bà H” từ đó không công nhận di chúc của cụ Lâm Thị K và chia thừa kế di sản của cụ Lâm Thị K theo pháp luật là không đúng”

(nguồn Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn) )

Đừng bỏ lỡ tin tức quan trọng, bài viết của các chuyên gia!

Tin tức nổi bật

Cập nhật 24h

Hữu ích