MỚI Ra mắt Giao diện mới cho trang Tra cứu mã HS – nhanh và thuận tiện Trải nghiệm ngay
Mới cập nhật
17/07/2017

Dự thảo án lệ 26 (đợt 3): Dự thảo án lệ về xác định người có trách nhiệm quản lý tài sản trong tội “Cướp tài sản”.

Tác giả: CaselawVN

Án lệ số ......./2017/AL về xác định người có trách nhiệm quản lý tài sản trong tội “Cướp tài sản”.

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày tháng năm 2017 và được công bố theo Quyết định số /QĐ-CA ngày tháng năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 19/2013/HS-GĐT ngày 18-7-2013 của Tòa Hình sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Cướp tài sản” và “Chống người thi hành công vụ” đối với các bị cáo A, B, C, D, E, H, K, L.

Vị trí nội dung án lệ:

Đoạn 2 phần “Xét thấy” của quyết định giám đốc thẩm nêu trên.

Khái quát nội dung của án lệ:

- Tình huống án lệ:

Tài sản bị người có thẩm quyền thu giữ nhưng chưa lập biên bản thu giữ tài sản mà bị cáo (trước đó đang quản lý tài sản đó) có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt lại tài sản đó.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, bị cáo không phạm tội “Cướp tài sản” mà phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

- Điểm d khoản 2 Điều 133; khoản 1 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999 (điểm d khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015);

Từ khóa của án lệ:

“Cướp tài sản”; “Chống người thi hành công vụ”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17-6-2009, A, B, C, H, K, E, D và L cùng uống bia và hát karaoke tại quán “Nhi Nhi” ở thôn M, xã N, thị xã O. Đến 20 giờ cùng ngày, cả nhóm đến quán “Sông quê” ở thôn P, xã Q uống cà phê. Tại đây, A mượn xe mô tô BKS: 78H7-8960 của Lộc chở B và K, còn E điều khiển xe mô tô chở L và H đến quán cà phê “Dốc tình” ở thôn R, xã S chơi. Khi chạy đến cầu xi măng thuộc thôn R thì bị một số thanh niên chặn đánh; hai bên đánh nhau. Khi nghe có Công an đến, A đã bỏ lại xe mô tô BKS: 78H7-8960 và cùng cả nhóm chạy về quán “Sông quê”.

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có hai nhóm thanh niên đánh nhau, đồng chí Lê Gươm Thiên (Trưởng Công an xã S) đã phân công đồng chí Huỳnh Xuân Hoàng (Công an viên xã S) và đồng chí Nguyễn Xuân Thâu (phó thôn R) đến hiện trường giải quyết. Thấy xe mô tô BKS: 78H7-8960 do A để lại hiện trường, đồng chí Hoàng đã giữ lại và báo cáo đồng chí Thiên. Đồng chí Thiên yêu cầu anh Trần Minh Công (trú tại thôn R) điều khiển xe ba gác đi cùng đồng chí Thiên đến hiện trường. Các đồng chí Công an và anh Công tiến hành chằng, buộc xe đưa về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã S để giải quyết.

Trong lúc này, tại quán “Sông quê”, Lộc hỏi A xe đâu thì A kể lại sự việc và nói “bây giờ bọn mình đi gặp Công an xin lại xe”, cả nhóm đồng ý và đi về phía đầu cầu thuộc thôn R. Trên đường đi, A và C mỗi người cầm theo một cây gỗ dài khoảng 2m. Cả nhóm vừa đi vừa hô “đi nhanh lên, cướp lại xe bọn bay ơi”. Khi gặp lực lượng Công an xã S, A đến gặp đồng chí Thiên xin lại xe. Đồng chí Thiên nói với cả nhóm là vụ việc này phải lên Công an xã giải quyết thì cả nhóm bao vây xe ba gác, C cầm gậy đập vào xe còn A hô “Khiêng xe xuống tụi bay”, B dùng dao cắt đứt dây buộc xe. A, E, K, Lộc, L xô đẩy, cản trở đồng chí Thiên, Hoàng. Sau đó Lộc, A, B, C khiêng xe xuống. Lộc điều khiển xe và cùng cả nhóm chạy về hướng xã Xuân Hải. Khi đi đến đầu cầu xi măng thuộc thôn R thì A, H và L tiếp tục rượt đuổi, đánh số thanh niên đang đứng ở bãi đỗ xe tại “Quán bè” thuộc thôn R. Thấy vậy, đồng chí Hoàng đến can ngăn thì bị A cầm gậy xông vào đánh. Đồng chí Thiên đến giữ A lại thì B cầm dao xông đến đe dọa, buộc đồng chí Thiên phải thả A ra. Sau đó, A và cả nhóm bỏ chạy về hướng xã Xuân Hải.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2011/HS-ST ngày 14-7-2011, Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133, khoản 1 Điều 257; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 47 (riêng đối với B áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 48); Điều 50 Bộ luật hình sự,

Xử phạt A 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”; buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 04 năm 03 tháng tù.

Xử phạt B 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, 01 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”; buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 04 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 47 (riêng đối với các bị cáo D, K, L áp dụng thêm Điều 60) Bộ luật hình sự,

Xử phạt E 03 năm 03 tháng tù, C 03 năm tù, H 03 năm tù, đều về tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt các bị cáo D, K, L mỗi bị cáo 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo.

Ngày 27-7-2011, A kháng cáo xin giảm hình phạt.

Ngày 27-7-2011, E kháng cáo cho rằng bị cáo chỉ phạm tội “Chống người thi hành công vụ”, xin được hưởng án treo.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 171/2011/HS-PT ngày 23-12-2011, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên quyết định:

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm đối với A.

Sửa án sơ thẩm đối với E; áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 46;

Điều 60 Bộ luật hình sự, xử phạt E 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo.

Tại kháng nghị giám đốc thẩm số 10/QĐ-VKSTC-V3 ngày 19-7-2012, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 171/2011/HS-PT ngày 23-12-2011, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên; đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 33/2011/HS-ST ngày 14-7-2011 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu để điều tra, xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Hội đồng xét xử giám đốc thẩm nhận định:

Việc đồng chí Lê Gươm Thiên (Trưởng Công an xã S) cùng các anh Huỳnh Xuân Hoàng (Công an viên), Nguyễn Văn Thâu (phó thôn R) tiến hành thu giữ xe mô tô BKS: 78H7-8960 do A bỏ lại hiện trường sau vụ xô xát giữa hai nhóm thanh niên tại địa bàn thôn R để đưa về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã S giải quyết là thực hiện đúng nhiệm vụ và chức trách.

Nếu việc thu giữ xe mô tô BKS: 78H7-8960 đã được các đồng chí Công an xã lập biên bản, đưa về kho giữ tang vật mà các bị cáo có hành vi đến khống chế, đe dọa để lấy tài sản thì hành vi này mới cấu thành tội “Cướp tài sản”. Trong trường hợp này, Công an xã chưa lập biên bản thu giữ xe mà chỉ đang thực hiện nhiệm vụ đưa xe về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã để giải quyết, nhưng vì muốn lấy lại xe do mình đang có trách nhiệm quản lý nên A và các bị cáo khác đã có hành vi xô đẩy, ngăn cản các đồng chí Công an làm nhiệm vụ. Do đó, hành vi của các bị cáo có dấu hiệu của tội “Chống người thi hành công vụ”. Việc các Cơ quan tiến hành tố tụng nhận định các bị cáo có hành vi dùng phương tiện nguy hiểm, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc đối với các đồng chí Công an xã nhằm chiếm đoạt xe mô tô và quy kết các bị cáo phạm tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự là chưa đủ căn cứ.

Ngoài ra, A và B còn có hành vi quay lại đuổi đánh các thanh niên đã đánh nhau trước đó. Đồng chí Lê Gươm Thiên và Huỳnh Xuân Hoàng đến can ngăn thì A đã dùng gậy đánh đồng chí Hoàng. Khi đồng chí Thiên bắt giữ A thì B đã dùng dao khống chế, đe dọa, buộc đồng chí Thiên phải thả A. Vì vậy, quá trình điều tra và xét xử vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng truy tố và xét xử các bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” là đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 279; khoản 3 Điều 285, Điều 287 và Điều 289 Bộ luật tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH

Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 171/2011/HS-PT ngày 23-12-2011, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và bản án hình sự sơ thẩm số 33/2011/HS-ST ngày 14-7-2011 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên; chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao để điều tra lại theo thủ tục chung./.

NỘI DUNG ÁN LỆ

“Nếu việc thu giữ xe mô tô BKS: 78H7-8960 đã được các đồng chí Công an xã lập biên bản, đưa về kho giữ tang vật mà các bị cáo có hành vi đến khống chế, đe dọa để lấy tài sản thì hành vi này mới cấu thành tội “Cướp tài sản”. Trong trường hợp này, Công an xã chưa lập biên bản thu giữ xe mà chỉ đang thực hiện nhiệm vụ đưa xe về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã để giải quyết, nhưng vì muốn lấy lại xe do mình đang có trách nhiệm quản lý nên A và các bị cáo khác đã có hành vi xô đẩy, ngăn cản các đồng chí Công an làm nhiệm vụ. Do đó, hành vi của các bị cáo có dấu hiệu của tội “Chống người thi hành công vụ”. Việc các Cơ quan tiến hành tố tụng nhận định các bị cáo có hành vi dùng phương tiện nguy hiểm, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc đối với các đồng chí Công an xã nhằm chiếm đoạt xe mô tô và quy kết các bị cáo phạm tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự là chưa đủ căn cứ.”

(nguồn Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn) )

Đừng bỏ lỡ tin tức quan trọng, bài viết của các chuyên gia!

Tin tức nổi bật

Cập nhật 24h

Hữu ích