- Trang chủ
- Bài viết
- Đọc án mỗi ngày
- (Dự thảo án lệ số 13 năm 2018 về Hình sự) Về hành vi phạm tội “Vô ý làm chết người”
(Dự thảo án lệ số 13 năm 2018 về Hình sự) Về hành vi phạm tội “Vô ý làm chết người”
Án lệ số /2018/AL về hành vi phạm tội “Vô ý làm chết người”
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày tháng năm và được công bố theo Quyết định số /QĐ-CA ngày tháng năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2017/HS-ST ngày 23-02-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về vụ án “Vô ý làm chết người” đối với bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh ngày 07/7/1981; trú tại xóm A, xã B, huyện C, tỉnh Đắc Lắc; nghề nghiệp: làm rẫy; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Lê Thị L; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 1999 bị Toà án nhân dân huyện D, Hà Tĩnh xử phạt 6 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản, ngày 14/4/2000 đã chấp hành xong bản án; bị bắt tạm giam từ ngày 12/6/2013.1
Người bị hại: anh Nguyễn Sỹ L (đã chết).
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 9, 10 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung án lệ:
- Tình huống án lệ:
Bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn, cùng một phe trong lúc đánh nhau; bị cáo khua súng chống đỡ sự tấn công của người khác, trong lúc chống đỡ bị cáo vô tình làm súng nổ mà không có ý thức nhằm vào người khác để bắn. Bị hại chết là ngoài ý muốn chủ quan bị cáo.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về “Tội vô ý làm chết người” mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về “Tội giết người”.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Khoản 1 Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1999 (tương ứng với khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015);
Từ khóa của án lệ:
“Vô ý làm chết người”; “Giết người”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Nguyễn Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do có sự bất đồng giữa nhóm Nguyễn Viết H và nhóm Mai Đức H, Nguyễn Viết L trong việc khai thác quặng Măng gan tại Vực Đ, xã E, huyện D, tỉnh Hà Tĩnh nên hai bên phát sinh mâu thuẫn, nghi ngờ lẫn nhau. Khoảng 14 giờ, ngày 08/01/2013, nghe tin có xe ô tô vào khu vực Vực Đ chở quặng Măng gan, Nguyễn Văn H (em trai Nguyễn Viết H) đi xe máy vào xem quặng có bị mất không. Trên đường đi gặp Nguyễn Sỹ S (là cháu của Nguyễn Văn H) đi xe máy chở bố là Nguyễn Sỹ L (là anh rể của Nguyễn Văn H) nên Nguyễn Văn H đã rủ cùng đi. Khi vào đến bãi quặng thấy 3 xe ô tô chở quặng đi ra, Nguyễn Sỹ S chặn 3 xe ô tô lại hỏi và được biết xe chở quặng cho anh Nguyễn Viết H. Thấy xe ô tô bị chặn lại, anh Bùi Quốc N (là người làm công cho Nguyễn Viết H) đi xe máy lại, vừa đến nơi thì bị Nguyễn Sỹ S đấm vào mặt và đe dọa từ nay không được làm quặng cho anh Nguyễn Viết H nữa. Vừa lúc đó, Nguyễn Viết H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu FORD ESCAPE biển kiểm soát 52X-4239 chở anh Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn V đi tới, Nguyễn Viết H xuống xe can thiệp để 3 xe ô tô chở quặng đi. Lúc này, Nguyễn Sỹ S lấy xe máy của anh Nhật chở Nguyễn Văn H, Nguyễn Sỹ L đi vào lán anh Nguyễn Viết H, còn Nguyễn Viết H điều khiển xe ô tô vào Xí nghiệp khai thác quặng Măng gan chơi. Khi Nguyễn Sỹ S, Nguyễn Sỹ L, Nguyễn Văn H đi xe máy tới, biết Nguyễn Văn H là em của Nguyễn Viết H, nên anh Nguyễn Viết H sợ bỏ chạy lên núi. Nguyễn Sỹ S đi vào lán của anh Nguyễn Viết H lục soát lấy một khẩu súng thể thao của anh Nguyễn Viết H (trong súng có 01 viên đạn) đưa cho Nguyễn Văn H (lúc này trong lán chỉ có anh Nguyễn Thế V và chị Bùi Thị N). Lấy được súng, Nguyễn Văn H, Nguyễn Sỹ L và Nguyễn Sỹ S đi về, còn Nguyễn Viết H điều khiển xe ô tô vào Xí nghiệp khai thác quặng Măng gan chơi một lúc thì chở Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn V về. Trên đường về Nguyễn Viết H gặp Nguyễn Viết L cùng một số người đang bốc gỗ lên xe ô tô tải tại đê cây tràm, Nguyễn Viết H cũng dừng xe gọi “Nguyễn Viết L ơi”. Lúc này, Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn V trên xe Nguyễn Viết H xuống nhặt đá để đánh Nguyễn Viết L. Nguyễn Viết L hoảng sợ bỏ chạy lên núi và điện thoại cho Nguyễn Viết N là cháu và một số người khác nói là bị Nguyễn Viết H chặn đánh, đưa ô tô vào chở Nguyễn Viết L về. Một lúc sau Nguyễn Viết L quay trở lại nơi bốc gỗ thì không thấy xe Nguyễn Viết H nữa, nên Nguyễn Viết L lấy khẩu súng hơi và con dao trên xe đi bộ về. Nhận điện thoại của Nguyễn Viết L, Nguyễn Viết N đến nhà Nguyễn Viết L lấy xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI biển kiểm soát 37A-0167 điều khiển xe đi vào Vực Đ thì gặp Nguyễn Viết T, Nguyễn Viết N nói với Nguyễn Viết T “Chú Nguyễn Viết L điện bảo bị Nguyễn Viết H chặn đánh, lấy xe vào đưa chú về”. Nghe vậy Nguyễn Viết T lên xe ô tô và hỏi “Đã chuẩn bị gì chưa”, Nguyễn Viết N trả lời “Chưa”. Nguyễn Viết T chở Nguyễn Viết N đi đến nhà bà Nguyễn Thị C và bảo vào mượn dao, Nguyễn Viết N xuống xe vào nhà gặp bà Nguyễn Thị C nói mượn mấy con dao về phát đường nên bà Nguyễn Thị C đã lấy 3 con dao để trong bao tải đưa cho Nguyễn Viết N, Nguyễn Viết N lấy dao mang lên xe ô tô. Nguyễn Viết T tiếp tục điều khiển xe ô tô đi vào Vực Đ thì gặp Nguyễn Viết H, Nguyễn Viết Q, Nguyễn Viết S, Nguyễn Văn T, Nguyễn Viết T dừng xe và nói Nguyễn Viết L bị Nguyễn Viết H chặn đánh, nghe vậy Hoàn cầm một ống tuýp nước, Nguyễn Viết N xuống lấy một đoạn tre rồi cùng mọi người lên xe ô tô. Nguyễn Viết T tiếp tục điều khiển xe ô tô đi đến gần Vực Đ thì gặp Nguyễn Viết L mang khẩu súng hơi và dao đi ra. Nguyễn Viết T dừng xe thì thấy Nguyễn Viết H điều khiển xe ô tô 52X-4239 đi tới nên Nguyễn Viết T điều khiển xe ô tô 37A-0167 đâm vào xe ô tô của Nguyễn Viết H. Thấy vậy Nguyễn Viết H ngồi trong xe điện thoại cho anh rể là Nguyễn Sỹ L biết, Nguyễn Sỹ L quay xe lại thì gặp Nguyễn Văn H, Nguyễn Sỹ S nên cùng nhau đi xe máy trở lại Vực Đ. Khi thấy một số người đang đập phá xe ô tô của Nguyễn Viết H, Nguyễn Sỹ L cầm dao đi trước, Nguyễn Văn H cầm khẩu súng thể thao và Nguyễn Sỹ S đi sau. Khi Nguyễn Sỹ L cách xe ô tô 52X-4239 của Nguyễn Viết H khoảng 7 - 8m thì Nguyễn Văn T cầm dao chém nhau với Nguyễn Sỹ L, Nguyễn Sỹ L chém một nhát trúng vào trán Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T chém một nhát trúng vào cánh tay trái của Nguyễn Sỹ L. Nghe Nguyễn Văn T kêu “Hắn chém em rồi”, thì Nguyễn Viết L cầm dao chạy tới chém một nhát trúng vào tay anh Nguyễn Sỹ L. Khi đó Nguyễn Viết N thấy Nguyễn Văn H đi phía sau cách anh Nguyễn Sỹ L khoảng 8 - 10m nên cầm gậy tre chạy lên để đánh Nguyễn Văn H, khi chạy lại cách Nguyễn Văn H khoảng 3m - 4m, Nguyễn Viết N dơ gậy lên để đánh nNguyễn Văn H thấy Nguyễn Văn H cầm khẩu súng thể thao, nòng hướng về phía mình nên Nguyễn Viết N sợ bỏ chạy. Nguyễn Văn H nổ súng nNguyễn Văn H đạn trúng vào người anh Nguyễn Sỹ L khi anh Nguyễn Sỹ L đứng phía trên dốc, lưng quay về phía Nguyễn Văn H. Lúc đó, Nguyễn Viết N chạy lại thấy anh Nguyễn Sỹ L bị ngã đã dùng gậy tre đập 2 cái, một cái trúng xuống đất, một cái trúng ngực anh Nguyễn Sỹ L. Hậu quả anh Nguyễn Sỹ L bị chết do đa chấn thương; xe ô tô BKS 52X-4239 của Nguyễn Viết H bị hư hỏng, trị giá thiệt hại là 94.048.976 đồng. Sau khi anh Nguyễn Sỹ L bị tử vong, cơ quan điều tra đã tổ chức khám nghiệm tử thi, giải phẫu và tìm thấy đầu đạn thể thao đường kính 5.54mm trong người anh Nguyễn Sỹ L. Quá trình khám nghiệm tử thi Nguyễn Văn H có mặt để xem, Nguyễn Văn H biết mình đã bắn vào người anh Nguyễn Sỹ L nên về mang súng đi đến cầu Cửa Trại thuộc xã Thanh Lộc, huyện D đập súng vào thành cầu làm súng gãy rồi vứt xuống sông. Theo lời khai của Nguyễn Văn H, cơ quan điều tra đã truy tìm được nòng súng thể thao có số B4271 dưới lòng sông tại cầu Cửa Trại.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 02/PC54 ngày 08/01/2013 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Nạn nhân hai môi thâm tím, gãy răng số 2 hàm dưới bên phải. Vết bầm tụ máu kích thước 30cm x 0,7cm, kéo dài từ núm vú trái đến xương đòn phải, gãy cung trước xương sườn 3, 4, 5 bên trái. Mặt ngoài 1/3 cẳng tay phải có vết thương 10cm x 4cm bờ mép sắc gọn, đứt cơ. Mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái có vết thương 5cm x 3cm bờ mép sắc gọn, đứt cơ. Vùng lưng trái, cách đường giữa sống lưng 4cm, cách thắt lưng 6cm về phía trên có vết thương hình tròn đường kính 0,4cm. Mặt đùi trái có vết bầm tụ máu kích thước 30cm x 0,4cm. Giải phẫu tử thi phát hiện vết thương làm gãy xương sườn bên trái dẫn đến vỡ mõm tim, trong trung thất chứa nhiều máu cục, máu loãng màu đen. Vết thương vùng lưng trái qua cơ lưng, xuyên thủng ruột non, bờ cong nhỏ dạ dày. Trong ổ bụng chứa nhiều máu cục, máu loãng màu nâu đen. Tại cung trước khoang liên sườn 6, 7 tìm thấy 01 đầu đạn có đường kính 5.54mm.
Nguyên nhân chết: Nạn nhân bị đa vết thương trong đó chấn thương vùng ngực làm gãy cung trước xương sườn 3, 4, 5 bên trái dẫn đến vỡ mõm tim là nguyên nhân chính dẫn đến chết.
Kết luận giám định liên quan đến khẩu súng:
- Bản kết luận giám định số 1056 ngày 18/4/2013, của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận: Đầu đạn thu trong người nạn nhân bằng chì, đường kính 5.54mm, nòng súng gửi giám định là nòng súng thể thao do Liên Xô sản xuất, bắn đạn thể thao cỡ 5.6mm. Do chỉ thu được nòng súng nên không thể bắn thực nghiệm lấy đầu đạn để so sánh với đầu đạn trong người nạn nhân Nguyễn Sỹ L.
- Thông báo kết quả giám định số 72/PC54, ngày 23/4/2013, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Khẩu súng ký hiệu Slavia 631 (súng của Nguyễn Viết L) không phải là khẩu súng bắn ra đầu đạn thu được trong người nạn nhân Nguyễn Sỹ L
- Công văn số 605, ngày 08/5/2013, của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tĩnh trả lời công văn số 199, ngày 30/7/2013, của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Hà Tĩnh có nội dung: Nòng súng số hiệu B4271 hiện nay bị cong, lòng nòng súng bị han rỉ nặng. Việc sữa chữa, phục hồi để bắn thu đầu đạn phục vụ giám định là không thể thực hiện được.
- Công văn số 315, ngày 05/8/2013, của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tĩnh trả lời Công văn số 822, ngày 30/7/2013, của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Hà Tĩnh có nội dung: Căn cứ vào nguyên lý hoạt động, chuyển động của đầu đạn và tính năng tác dụng của khẩu súng nêu trong công văn thì vị trí phát hỏa cách nạn nhân 8-10m là phù hợp thực tế.
- Ngày 11/11/2015, Viện khoa học hình sự Bộ Công an có Công văn số 2035 trả lời theo yêu cầu của Tòa án cấp cao tại Hà Nội với nội dung: Nòng súng số hiệu B4271 là của khẩu súng thể thao TO3 8M, bắn đầu đạn thể thao cỡ 5.6mm, tức nòng súng cỡ 5.6mm. Đầu đạn thu được trong người Nguyễn Sỹ L là của loại đạn thể thao cỡ 5.6mm, sau khi bắn qua nòng súng đường kính còn 5.54mm là hoàn toàn hợp lý. Khẳng định nòng súng số hiệu B4271 của khẩu súng thể thao TO3 8M có thể bắn được đầu đạn đường kính 5.54mm thu trong người nạn nhân Nguyễn Sỹ L.
- Công văn trả lời số 799 ngày 18/5/2016 của Viện khoa học hình sự bộ Công an cho biết: Hiện tại bộ phận giám định súng, đạn của Viện chưa có phương tiện đo cường độ âm thanh để làm cơ sở tính khoảng cách có thể nghe thấy tiếng nổ của các loại súng. Với những lời khai của đối tượng Nguyễn Văn H và điều kiện, diển biến, không gian, thời gian xảy ra vụ án theo nội dung công văn; Viện khoa học hình sự không thể lấy đó làm căn cứ xác định tiếng “Tạch” cũng như khả năng (có hay không) nghe thấy tiếng súng nổ của những người đứng xung quanh Nguyễn Văn H.
- Kết luận giám định số 284/PC54 ngày 03/8/2016 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Bên trong nòng súng số hiệu B 4271 có 4 rãnh xoắn, xoắn sang phải.
Các bị cáo khác đã được xét xử tại Bản án hình sự phúc thẩm số 286/2015/HSPT ngày 28/12/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Vật chứng và trách nhiệm dân sự:Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2014/HSST ngày 01/7/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và Bản án hình sự phúc thẩm số 286/2015/HSPT ngày 28/12/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Tại bản cáo trạng số 32/CTr- KSĐT, ngày 24/8/2016 của VKSND tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Giết người” theo khoản 2 điều 93 BLHS.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố thay đổi tội danh của cáo trạng đã truy tố, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân, tâm lý bị cáo trong quá trình phạm tội, từ đó đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H khoảng từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 điều 98 BLHS. Miễn xét về phần dân sự, vật chứng (vì đã được giải quyết) Xử buộc về án phí và quyền kháng cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khẳng định có mang súng trên người nNguyễn Văn H không sử dụng. Cũng tại phiên tòa Nguyễn Viết N khẳng định khi chạy lại để đánh Nguyễn Văn H thấy Nguyễn Văn H cầm súng hướng nòng về phía mình nên sợ và bỏ chạy lên đồi, Nguyễn Viết L thì thấy Nguyễn Văn H cầm súng khua chứ không rõ có bắn hay không. Tại hồ sơ một số người làm chứng cũng thừa nhận việc thấy Nguyễn Văn H cầm súng tại thời điểm xảy ra xô xát nNguyễn Văn H họ không nghe tiếng súng nổ cũng như không khẳng định được Nguyễn Văn H có bắn hay không. Bị cáo còn cho rằng do bị điều tra viên Đậu Duy Nguyễn Văn H ép cung và mớm cung nên đã khai không đúng sự thật.
Hội đồng xét xử thấy: Tại Biên bản ghi lời khai ngày 02/4/2013 bị cáo khai rõ: "Tôi dừng xe, cầm khẩu súng để chống đỡ những người này, tôi cầm súng khua ngang qua lại vừa đi thụt lùi để chống đỡ khỏi bị đánh... lúc vừa chống đỡ vừa lùi tôi có cầm vào cò súng thì tôi nghe súng nổ cái "tạch" tôi không biết vì sao súng nổ. Tôi cũng không biết trong súng có đạn hay không vì từ lúc Nguyễn Sỹ S đưa súng cho tôi cầm tôi cũng không kiểm tra trong súng có đạn hay không và tôi cũng không có đạn để bỏ vào dùng. Lúc đó tôi nghe súng kêu "tạch" thì những người đánh tôi vẫn xông vào đánh tôi...". Và tại Biên bản ghi lời khai ngày 04/4/2013 do Điều tra viên Trần Cảnh Lệ lấy lời khai thể hiện: "Còn tôi dùng khẩu súng (Nguyễn Sỹ S lấy trong lán anh Nguyễn Viết H) dơ lên khuơ đi khuơ lại để chống đỡ các nhát chém của anh Hoàn và anh Nguyễn Viết L và hai người đeo khẩu trang tôi không rõ tên. Đang khuơ súng thì tôi nghe một tiếng nổ "tạch" tôi xác định đó là tiếng súng nổ (súng tôi cầm trên tay) tôi vừa lùi vừa chống đỡ rồi tôi và Nguyễn Sỹ S chạy thoát được lên đồi... Khi khám nghe các anh công an nói có vết đạn, tôi nghĩ có lẽ vết đạn do súng mình cầm lúc nãy nổ. Tôi sợ liên quan nên tôi quay lại cổng Công ty Măng gan lấy khẩu súng lúc nãy tôi dấu ở đó rồi đi xe máy về đến cầu Cửa Trại, tôi đi đến giữa cầu đập súng vào thành cầu làm súng gãy báng súng và nòng súng rời ra, tôi vứt tất cả xuống dưới cầu rồi đi về nhà mẹ tôi". Tại Biên bản hỏi cung ngày 25/6/2013, có mặt Luật sư Mai Xuân Định và luật sư Dương Kim Nguyễn Sỹ S, Nguyễn Văn H khai: "Bị tấn công tôi cầm súng lên chống đỡ, tôi cầm súng bằng hai tay, tôi cầm ở đầu báng súng, nòng súng hướng về những đối tượng tấn công tôi, tôi khuơ ngang súng qua lại để chống đỡ. Khi tôi đang khuơ súng thì nghe tiếng súng "tạch".... Trong quá trình khám nghiệm tử thi tôi nghe cán bộ khám nghiệm nói anh Nguyễn Sỹ L bị chém và bắn. Khi nghe vậy, tôi nghĩ không biết có phải lúc nãy súng tôi nổ viên đạn trúng vào người anh Nguyễn Sỹ L hay không. Tôi vừa lo vừa sợ...".
Những lời khai trên của bị cáo Nguyễn Văn H ở tại các mốc thời gian khác nhau, hai Điều tra viên đã được phân công lấy lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H nhưng các lời khai đều thống nhất và phù hợp với diễn biến của vụ án. Tại phiên tòa, bị cáo cho rằng quá trình lấy lời khai, điều tra viên đã mớm cung, ép cung, bày cho khai là không có cơ sở vì: Nguyễn Văn H là một người không mắc bệnh tật gì ảnh hưởng tới nhận thức, có hiểu biết về pháp luật nên không thể điều tra viên nói sao thì nghe và trình bày như vậy và ngay từ đầu Nguyễn Văn H đã cố tình che dấu hành vi của mình, ngày 11/3/2013 Cơ quan điều tra triệu tập vào làm việc, trong quá trình làm việc lúc đầu Nguyễn Văn H trình bày không có mặt tại hiện trường vụ án, chỉ khi có các người làm chứng, chứng minh sự có mặt của Nguyễn Văn H khi xảy ra đánh nhau tại hiện trường thì Nguyễn Văn H không thể chối cãi được nên mới khai nhận (điều tra viên có quá trình đấu tranh với Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H mới khai nhận nội dung có mặt tại hiện trường và có mang theo khẩu súng lấy ở trong lán của Nguyễn Viết H). Từ lời khai của Nguyễn Văn H vào ngày 03/4/2013 Cơ quan điều tra mới truy tìm được khẩu súng (phần nòng súng) sau khi Nguyễn Văn H đập gãy khẩu súng vứt xuống sông Cửa Trại xã Thanh Lộc, huyện D, tỉnh Hà Tĩnh. Nội dung lời khai của Nguyễn Văn H trước đây hoàn toàn phù hợp với diễn biến của vụ án xảy ra tại hiện trường và lời khai của người làm chứng, các bị cáo khác. Việc lấy lời khai hoàn toàn do Nguyễn Văn H trình bày, khi xảy ra vụ án điều tra viên không có mặt tại hiện trường nên không thể biết được nội dung diễn biến của sự việc để bày cho Nguyễn Văn H khai, việc lấy lời khai của Nguyễn Văn H không chỉ do một mình điều tra viên Đậu Duy Nguyễn Văn H tiến hành mà còn có điều tra viên Trần Cảnh Lệ, bên cạnh đó trong quá trình lấy lời khai còn có 02 luật sư bảo vệ quyền Nguyễn Viết L cho Nguyễn Văn H cùng tham gia. Trong quá trình Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình ngày 02/4/2013. Khi đó, Cơ quan CSĐT chưa áp dụng biện pháp ngăn chặn giam, giữ, đến ngày 12/6/2013 khởi tố bị can mới bắt tạm giam Nguyễn Văn H do đó không thể có việc ép cung, mớm cung được. Đặc biệt tại 07 bản khai, bản cung Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình trong đó có 01 bản điều tra viên Trần Cảnh Lệ ghi, còn 06 lời khai điều tra viên Đậu Duy Nguyễn Văn H ghi, trong đó có 01 bản có 02 luật sư tham gia, Luật sư Mai Xuân Định thuộc đoàn luật sư Hà Tĩnh, Luật sư Dương Kim Nguyễn Sỹ S thuộc đoàn luật sư Hà Nội do gia đình Nguyễn Văn H mời, nội dung trong các bản khai, bản cung phù hợp với nhau và đều khẳng định việc Nguyễn Văn H khai báo là khách quan, không bị bức cung, mớm cung. Nếu trong quá trình đánh nhau Nguyễn Văn H không sử dụng súng thì Nguyễn Văn H không thể có những hành vi che dấu sự có mặt của Nguyễn Văn H tại hiện trường vụ án, và không thể có hành vi đập gãy súng vứt xuống sông, đây là hành động nhằm tiêu hủy chứng cứ để trốn tránh trách nhiệm trước pháp luật khi biết có đầu đạn trong người anh Nguyễn Sỹ L (Nguyễn Văn H chứng kiến việc khám nghiệm tử thi anh Nguyễn Sỹ L và biết anh Nguyễn Sỹ L bị bắn). Đối với việc Nguyễn Văn H thay đổi lời khai không thừa nhận là trong súng có đạn (Nguyễn Sỹ S đã kiểm tra trước lúc giao cho Nguyễn Văn H) và chỉ đeo súng trong quá trình đánh nhau chứ không đưa súng ra sử dụng, sau 02 tháng mới đập súng vứt xuống sông. Lời trình bày này không đúng thực tế vì mục đích của Nguyễn Văn H, Nguyễn Sỹ L, Nguyễn Sỹ S và một số người khác quay lại là khi nghe Nguyễn Viết H gọi điện bị một số người (Nguyễn Viết L, Nguyễn Viết N …) đập phá xe Nguyễn Viết H, việc cầm súng quay lại là nhằm đánh nhau với những người đập phá xe Nguyễn Viết H. Với mục đích quay lại để đánh nhau mà trên tay lại có súng, lại đang bị đánh liệu Nguyễn Văn H có thể không đưa súng ra sử dụng được không? Nếu Nguyễn Văn H không sử dụng súng thì làm sao khi phát hiện trong người anh Nguyễn Sỹ L có đầu đạn thì Nguyễn Văn H lại lẳng lặng đi lấy súng đập gãy vứt xuống sông nhằm mục đích phi tang. Cũng không thể có việc khi phát hiện (do xem khám nghiệm tử thi) thấy đầu đạn trong người anh Nguyễn Sỹ L thì mãi hai tháng sau mới lấy súng đập gãy vứt xuống sông, tâm lý của người phạm tội không thể xảy ra trường hợp như vậy. Việc kiểm tra súng xem có đạn hay không là hoàn toàn không có, trước đây Nguyễn Văn H và Nguyễn Sỹ S đều khai nhận không kiểm tra súng, chỉ sau khi đưa Nguyễn Văn H ra xét xử thì Nguyễn Văn H mới thay đổi lời khai, bản thân Nguyễn Sỹ S không biết gì về súng thì không thể kiểm tra có đạn hay không?
Mặt khác Anh Nguyễn Thế V đứng cạnh Nguyễn Sỹ S lúc Nguyễn Sỹ S lấy súng đã trình bày sau khi Nguyễn Sỹ S lấy súng xong đã đưa ngay cho Nguyễn Văn H mà không kiểm tra gì, Anh Mai Đức H khai là trong súng luôn luôn lắp sẵn một viên đạn, Luật sư Mai Xuân Định trình bày là không có việc ép cung hay mớm cung tại biên bản hỏi cung do Luật sư Định và Luật sư Dương Kim Nguyễn Sỹ S tham gia (tại biên bản hỏi cung này bị cáo Nguyễn Văn H hoàn toàn thừa nhận việc đã dùng súng …).
Việc Nguyễn Văn H thay đổi lời khai phù hợp các tình tiết với Nguyễn Sỹ S thay đổi lời khai là do sau khi nhận hồ sơ điều tra lại, ngày 23/4/2016 điều tra viên hỏi một bản cung về căn cước lai lịch. Ngày 04/5/2016 Nguyễn Sỹ S bị bắt tạm giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và được đưa vào tạm giam cùng phòng 2, nhà B1 với Nguyễn Văn H. Ngày 11/5/2016 Hỏi cung Nguyễn Văn H thì Nguyễn Văn H khai báo những tình tiết như trên, ngày 07/6/2016, lấy lời khai của Nguyễn Sỹ S thì Nguyễn Sỹ S cũng khai tình tiết giống với Nguyễn Văn H. Vấn đề này đã có báo cáo của Trại tạm giam cũng như các bị can bị giam cùng phòng với Nguyễn Sỹ S và Nguyễn Văn H thừa nhận Nguyễn Văn H thường xuyên nói chuyện với Nguyễn Sỹ S nhất là sau các buổi hỏi cung.
Nội dung thay đổi lời khai của Nguyễn Văn H cũng chỉ viện lý do là do điều tra viên Đậu Duy Nguyễn Văn H bày cho khai, mà không đưa ra được tình tiết gì mới, qua đó cho thấy việc thay đổi lời khai và kêu oan của Nguyễn Văn H là không có cơ sở. Việc bị cáo Nguyễn Văn H chối tội là hành vi quanh co, bao biện nhằm phủ nhận về tội phạm mà bị cáo đã thực hiện. Tại hiện trường, một số nhân chứng khai có thấy bị cáo Quang ôm một khẩu súng. Bị cáo Quang cũng đã thừa nhận bị cáo có thấy một khẩu súng ở bên đường và biết là của Nguyễn Viết L nên đã đem về nhà cất dấu, sau đó Quang khai báo với cơ quan điều tra và đã được thu giữ. Lời khai của bị cáo Nguyễn Viết L và Quang hoàn toàn phù hợp với diễn biến vụ án và vật chứng đã được thu giữ. Kết luận điều tra cũng đã khẳng định:"Khẩu súng ký hiệu Slavia 631 không phải bắn ra đầu đạn thu được trong người Nguyễn Sỹ L" và mặc dù không thể bắn thực nghiệm điều tra đối với khẩu súng thể thao do Liên Xô (cũ) sản xuất vì nòng súng đã bị bẻ cong không thể khôi phục được tính năng ban đầu nNguyễn Văn H lời khai của Nguyễn Văn H trước đây phù hợp với lời khai của các bị cáo, các người làm chứng và diễn biến sự việc. Hơn nữa, viên đạn thu được trong người anh Nguyễn Sỹ L là loại đạn thể thao, và tại hiện trường cũng chỉ có Nguyễn Văn H là người sử dụng súng thể thao. Bị cáo biết được rằng dùng súng thể thao đánh nhau là nguy hiểm, tính sát thương cao nNguyễn Văn H vẫn sử dụng. Kết quả khẩu súng đó đã bắn ra viên đạn găm vào người anh Nguyễn Sỹ L, gây đa vết thương cho anh Nguyễn Sỹ L dẫn đến tử vong.
Theo Kết luận giám định số 284/PC54 ngày 03/8/2016 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: “Bên trong nòng súng số hiệu B 4271 có 4 rãnh xoắn, xoắn sang phải”, điều này phù hợp với đầu đạn thu được trong người anh Nguyễn Sỹ L và kết luận giám định số 1054/C54(P3) ngày 18/4/2013 của Viện khoa học hình sự:…“01 đầu đạn thu trong người nạn nhân bằng chì, đường kính 5,54mm. Quan sát dưới kính hiển vi MZ 1000 xác định: Đầu đạn này được bắn ra từ nòng súng có 04 đường xoắn sang phải”. Tại công văn số 2035 ngày 11/11/2015, của Viện khoa học hình sự:…“ Nòng súng số hiệu B4271 là của khẩu súng thể thao TO3 8M, bắn đầu đạn thể thao cỡ 5.6mm, tức nòng súng cỡ 5.6mm. Đầu đạn thu được trong người Nguyễn Sỹ L là của loại đạn thể thao cỡ 5.6mm, sau khi bắn qua nòng súng đường kính còn 5.54mm là hoàn toàn hợp lý. Khẳng định nòng súng số hiệu B4271 của khẩu súng thể thao TO3 8M có thể bắn được đầu đạn đường kính 5.54mm thu trong người nạn nhân Nguyễn Sỹ L”.
Mặt khác, tính năng tác dụng của súng thể thao là phải bóp cò thì súng mới nổ và lúc nổ âm thanh cũng không lớn nên trong lúc đánh nhau hỗn loạn, hô hét lại tại địa bàn rừng núi, mọi người mãi đánh nhau nên không nghe được tiếng súng cũng là hợp lý. Nguyên nhân anh Nguyễn Sỹ L chết là do đa chấn thương trong đó có phát súng của Nguyễn Văn H gây ra.
Tuy nhiên, qua các chứng cứ có tại hồ sơ và quá trình tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét thấy: Xét về ý thức chủ quan thì việc anh Nguyễn Sỹ L chết là ngoài mong muốn của Nguyễn Văn H vì anh Nguyễn Sỹ L là anh rể của bị cáo, giữa bị cáo và anh Nguyễn Sỹ L không có mâu thuẫn gì, hơn nữa lại là cùng một phe trong lúc đánh nhau. Theo lời khai của bị cáo tại hồ sơ thì bị cáo chỉ khua súng chống đỡ trong quá trình đánh nhau, chứ không phải nhằm vào Nguyễn Viết N để bắn, việc cầm vào cò súng và súng nổ là do vô ý, do trong quá trình khua súng, tay chạm vào cò nên súng đã nổ. Vì vậy, việc truy tố đối với Nguyễn Văn H về tội “Giết người” là chưa thõa mãn.
Qua những phân tích trên HĐXX xét thấy Hành vi của Nguyễn Văn H đủ yếu tố cầu thành tội "Vô ý làm chết người" được quy định tại Điều 98 BLHS và tại phiên tòa Viện kiểm sát đã thay đổi quan điểm của cáo trạng đã truy tố đề nghị xử Nguyễn Văn H về tội “Vô ý làm chết người” là hoàn toàn chính xác. Khi thực hiện tội phạm bị cáo có đầy đủ năng lực TNHS, tại phiên tòa bị cáo khai báo quanh co, chưa thành khẩn. Do đó, cần lên một mức án nghiêm đối với bị cáo Nguyễn Văn H để nâng cao tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về phần dân sự, vật chứng: Đã được giải quyết nên miễn xét.
Về án phí:Bị cáo phải nộp tiền án phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn H phạm tội "Vô ý làm chết người". Áp dụng khoản 1 Điều 98 BLHS xử phạt bị cáoNguyễn Văn H. 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (12/6/2013).
2. Về án phí:Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng Hình Sự; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án xử buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“Xét về ý thức chủ quan thì việc anh Nguyễn Sỹ L chết là ngoài mong muốn của Nguyễn Văn H vì anh Nguyễn Sỹ L là anh rể của bị cáo, giữa bị cáo và anh Nguyễn Sỹ L không có mâu thuẫn gì, hơn nữa lại là cùng một phe trong lúc đánh nhau. Theo lời khai của bị cáo tại hồ sơ thì bị cáo chỉ khua súng chống đỡ trong quá trình đánh nhau, chứ không phải nhằm vào Nguyễn Viết N để bắn, việc cầm vào cò súng và súng nổ là do vô ý, do trong quá trình khua súng, tay chạm vào cò nên súng đã nổ. Vì vậy, việc truy tố đối với Nguyễn Văn H về tội “Giết người” là chưa thõa mãn.
Qua những phân tích trên HĐXX xét thấy Hành vi của Nguyễn Văn H đủ yếu tố cầu thành tội "Vô ý làm chết người" được quy định tại Điều 98 BLHS.”
(1) Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật
(Nguồn: Tài liệu Hội nghị Sơ kết 03 năm thực hiện công tác phát triển án lệ – TANDTC. Tại TPHCM. 17/9/2018)
Cùng chuyên mục
Mới nhất
Xem nhiều
Áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời đối với sản phẩm thép mạ từ Trung Quốc và Hàn Quốc (Mã vụ việc: AD19)
Ngày 01/04/2025, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 914/QĐ-BCT về việc áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời đối với một số sản phẩm thép mạ có xuất xứ từ Trung Quốc và Hàn Quốc.
Hàng hóa bị áp thuế có mã HS:
7210.41.11, 7210.41.12, 7210.41.19, 7210.49.11, 7210.49.14, 7210.49.15, 7210.49.16, 7210.49.17, 7210.49.18, 7210.49.19, 7210.50.00, 7210.61.11, 7210.61.12, 7210.61.19, 7210.69.11, 7210.69.19, 7210.90.10, 7210.90.90, 7212.30.11, 7212.30.12, 7212.30.13, 7212.30.14, 7212.30.19, 7212.50.14, 7212.50.19, 7212.50.23, 7212.50.24, 7212.50.29, 7212.50.93, 7212.50.94, 7212.50.99, 7212.60.11, 7212.60.12, 7212.60.19, 7225.92.90, 7226.99.11, 7226.99.91
Mức thuế tạm thời
Đối với hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc: Lên tới 37,13%
Đối với hàng hóa có xuất xứ từ Hàn Quốc: Lên tới 15,67%
Vụ việc trước được khởi xướng điều tra bởi các doanh nghiệp:
- Công ty CP Tập đoàn Hoa Sen
- Công ty CP Thép Nam Kim
- Công ty Tôn Phương Nam
- Công ty CP Tôn Đông Á
- Công ty CP China Steel Sumikin
- Nippon Steel Việt Nam
Xem và tải Quyết định số 914/QĐ-BCT tại đây: https://caselaw.vn/van-ban-phap-luat/411431-quyet-dinh-so-914-qd-bct-cua-bo-truong-bo-cong-thuong-ap-dung-thue-chong-ban-pha-gia-tam-thoi-doi-voi-mot-so-san-pham-thep-ma-co-xuat-xu-tu-cong-hoa-nhan-dan-trung-hoa-va-dai-han-dan-quoc
Cùng chuyên mục
Mới nhất
Xem nhiều
Kỹ năng nghề luật có được từ thời thực tập – hành trang giúp sự nghiệp về sau của bạn dù chưa ai từng kể
Không ai bắt đầu nghề luật bằng những bản hợp đồng triệu đô hay những phiên tranh tụng căng thẳng. Đã bao giờ bạn ao ước, ngay sau khi tốt nghiệp, sẽ được tham gia những công việc “chuyên môn cao” như tư vấn pháp lý, soạn thảo hợp đồng, hay trực tiếp tranh tụng tại tòa?
Thực tế thường không màu hồng đến vậy.
Hầu hết đều khởi đầu từ một góc bàn nhỏ, vài tập hồ sơ dày cộp, và những công việc không tên. Những ngày đầu thực tập hoặc mới đi làm thường gắn liền với việc in tài liệu, sắp xếp hồ sơ, gửi công văn, hỗ trợ làm slide báo giá… Toàn những việc có vẻ nhàm chán, tưởng chừng không mấy liên quan đến kiến thức đã học ở trường – và càng khác xa hình ảnh luật sư mặc vest chỉnh tề, lập luận sắc bén như trên phim ảnh.
Nhưng chính trong những công việc tưởng chừng tẻ nhạt đó, sự khác biệt giữa người thành công và người không thành đã bắt đầu manh nha hình thành. Có người làm cho xong, cũng có người coi đó là cơ hội để học nghề từ những điều nhỏ nhất. Cũng từ đó, những kỹ năng nghề luật cho sự nghiệp sau này dần được đặt nền móng.
1. “Không chọn việc” khi thực tập
Có được cơ hội thực tập tại các công ty luật, văn phòng luật sư là một niềm may mắn đối với các bạn sinh viên. Không phải ai cũng được giao ngay những công việc “có tên” trong giai đoạn thực tập. Trên thực tế, phần lớn thực tập sinh sẽ bắt đầu với những đầu việc rất cơ bản: in tài liệu, đi công chứng, đóng dấu hồ sơ, hỗ trợ chuẩn bị cuộc họp, hoặc đơn giản là... đi giao tài liệu cho khách hàng.
Những công việc đó thường không hào nhoáng, không tạo ra cảm giác được làm việc như những luật sư mà bạn có thể kỳ vọng. Tuy nhiên, cách mỗi người tiếp nhận những đầu việc ấy lại là dấu hiệu rõ ràng về tinh thần học hỏi và thái độ nghề nghiệp.
Việc đi giao tài liệu – thoạt nhìn là một đầu việc hành chính thuần túy tưởng như chẳng liên quan gì đến chuyên môn luật. Nhưng nếu nhìn từ góc độ của một người hành nghề thực sự, đây là công việc đòi hỏi sự cẩn trọng, chủ động và kỹ năng xử lý tình huống thực tế.
Trước khi giao tài liệu, thực tập sinh cần kiểm tra lại toàn bộ hồ sơ: đúng loại tài liệu, đúng số lượng, đúng phiên bản cần giao (bản công chứng hay là bản gốc) kèm theo biên bản bàn giao được soạn sẵn. Cần xem thời gian giao có gấp không, tài liệu có phục vụ cho cuộc họp hay thủ tục nào quan trọng không. Đến khâu di chuyển – cần xem bản đồ, định tuyến đường đi, tránh tắc đường hoặc đến sai địa điểm.
Tại nơi giao, phải xác định đúng người nhận, đúng bộ phận. Chỉ một sơ suất như giao sai người, nhầm phòng ban hoặc làm thất lạc tài liệu cũng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ công việc, thậm chí làm phát sinh trách nhiệm không đáng có.
Và chính trong vài phút ngắn ngủi khi gặp khách hàng, một thực tập sinh hoàn toàn có thể học được nhiều kỹ năng quan trọng: từ cách giao tiếp lịch sự, giữ tác phong chuẩn mực, đến việc quan sát văn hóa doanh nghiệp và rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống nhỏ nhưng thực tế.
Hay như việc trả lời các tình huống pháp lý thực tế trên các diễn đàn pháp luật – từng là kênh phổ biến trước khi mạng xã hội phát triển. Trước khi được tin tưởng giao xử lý một vụ việc thực tế, hãy tập trả lời các câu hỏi thực tế trên diễn đàn – nơi mọi người đăng các tình huống thường gặp: từ tranh chấp đất đai, lao động, đến hợp đồng dân sự. Tự đọc, tự tra cứu, tự suy nghĩ, và gõ lại từng dòng giải thích cho người ta hiểu. Cách làm này giúp bạn rèn luyện khả năng nghiên cứu, trình bày bằng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu – và quan trọng nhất là hình thành tư duy pháp lý thực tiễn.
“Không chọn việc” không có nghĩa là làm tất cả. Mà là làm bất kỳ việc gì được giao với tinh thần học nghề nghiêm túc. Chính những điều đó tạo nên bản lĩnh nghề nghiệp mà không lớp học nào có thể dạy. Kỹ năng nghề luật bắt đầu hình thành một cách tự nhiên: quan sát tốt hơn, xử lý linh hoạt hơn, và sẵn sàng hơn để tiếp nhận những công việc khó hơn trong tương lai.
2. Sắp xếp tài liệu
2.1 Việc nhỏ dạy tư duy lớn
Sắp xếp tài liệu là một trong những đầu việc quen thuộc nhất mà thực tập sinh thường được giao trong những ngày đầu tiên. Công việc này có thể bao gồm: dán nhãn, bấm lỗ, kẹp vào bìa, in mục lục, đánh số trang. Ở mức phức tạp hơn là phân loại tài liệu theo nhóm: hồ sơ hành chính, chứng cứ, văn bản trao đổi giữa các bên, hợp đồng, công văn từ cơ quan nhà nước, thư khiếu nại, bản án, quyết định, v.v... Sau đó là bước sắp xếp theo trình tự thời gian, theo tiến trình vụ việc, hoặc theo logic nội dung.
Nhìn qua, đây có vẻ là công việc thuần hành chính, mang tính hỗ trợ, không đòi hỏi kiến thức chuyên môn sâu. Nhưng nếu tiếp cận đúng cách, đây lại là bài học đầu tiên về tư duy hệ thống trong nghề luật. Tại sao?
Tài liệu trong một vụ việc pháp lý có thể lên đến vài trăm trang: hợp đồng, phụ lục, email trao đổi, công văn, biên bản làm việc, thư khiếu nại, đơn khởi kiện, chứng cứ, văn bản tố tụng, đến cả bản án cũ có liên quan. Trong quá trình sắp xếp, thực tập sinh có cơ hội tiếp cận toàn bộ sự kiện của một vụ việc.
Nếu nghĩ rằng công việc này chỉ dừng lại ở mức xếp cho gọn gàng thì bạn đã bỏ lỡ một cơ hội rất đáng giá để học hỏi thực tế. Hãy cầm lại bộ hồ sơ trên tay, cố gắng đọc – hiểu – và hình dung lại bối cảnh pháp lý đang diễn ra trong vụ việc đó. Làm kỹ khâu này sẽ giúp bạn nhận ra mối quan hệ giữa các bên, trình tự diễn biến sự việc, các vấn đề pháp lý phát sinh, và đâu là tài liệu mấu chốt cần lưu ý.
2.1 Lật từng trang tài liệu và đọc kỹ
Bí kíp ở đây là: lật từng trang tài liệu và đọc kỹ. Sẽ có nhiều thông tin mà bạn chưa từng được học trên lớp. Đó có thể là cách luật sư đánh dấu, gạch chân, ghi chú bên lề – những dấu vết thể hiện rõ tư duy phân tích và xử lý vấn đề trong từng vụ việc. Đây là những thứ bạn có thể học được, dù không ai trực tiếp chỉ cho bạn.
- Mỗi loại tài liệu có giá trị pháp lý ưu tiên khác nhau, nên cần được phân nhóm phù hợp: nhóm làm căn cứ pháp lý, nhóm là tài liệu nội bộ, nhóm để chứng minh hành vi…
- Thời gian là yếu tố quan trọng: sắp xếp theo trình tự thời gian sẽ giúp nhìn rõ tiến trình tranh chấp hoặc diễn biến của toàn bộ vụ việc.
- Cách lưu file cũng không kém phần quan trọng: chỉ cần đặt tên file đúng chuẩn và lưu đúng thư mục, bạn có thể tiết kiệm được đáng kể tra cứu – thậm chí còn giúp người khác làm việc nhanh hơn.
Nhờ việc nắm rõ cấu trúc hồ sơ do chính mình sắp xếp, bạn sẽ giúp luật sư phụ trách tìm được văn bản quan trọng trong thời gian ngắn. Đó là một khoảnh khắc nhỏ – nhưng là lúc bạn nhận ra mình thật sự đang góp phần vào công việc, không chỉ đơn thuần nghĩ rằng mình làm việc vặt.
2.3 Ứng dụng vào tranh tụng và M&A
Về sau này, kỹ năng sắp xếp và đọc hiểu tài liệu trở thành nền tảng quan trọng trong nhiều công việc chuyên môn.
- Trong tranh tụng, luật sư phải xử lý hàng trăm trang hồ sơ để tái dựng lại vụ việc, xác định chứng cứ chính, và xây dựng hệ thống lập luận rõ ràng, logic.
- Trong M&A, việc rà soát hồ sơ pháp lý (legal due diligence) đòi hỏi khả năng phân loại tài liệu, đối chiếu thông tin, phát hiện rủi ro từ những chi tiết nhỏ nhất – điều mà chỉ ai quen làm việc với tài liệu mới đủ nhạy để xử lý hiệu quả.
- Trong tư vấn nội bộ, việc kiểm soát và truy xuất tài liệu nhanh chóng giúp đưa ra quyết định chính xác và kịp thời, nhất là trong các tình huống cần phản ứng nhanh với rủi ro pháp lý.
Sắp xếp tài liệu là bước đầu để hình thành tư duy xử lý thông tin – một kỹ năng cốt lõi trong hành nghề luật, và là nền móng để xử lý những công việc phức tạp hơn trong tương lai.
3. Khi slide báo giá không chỉ là thiết kế
Trong các công ty luật, khi tiếp nhận một yêu cầu tư vấn hoặc xử lý vụ việc từ khách hàng, luật sư điều hành hoặc phụ trách thường sẽ yêu cầu bộ phận chuyên môn chuẩn bị một slide báo giá (proposal).
Đây là tài liệu giới thiệu tóm tắt vụ việc, đề xuất phương án xử lý, phạm vi công việc sẽ thực hiện, nhân sự phụ trách, thời gian dự kiến và mức phí tương ứng. Tài liệu này thường được gửi cho khách hàng như một bước mở đầu trước khi ký hợp đồng dịch vụ pháp lý.
Việc làm slide báo giá tuy không trực tiếp giải quyết vấn đề pháp lý, nhưng lại là một phần trong quy trình làm việc chuyên nghiệp. Nó giúp khách hàng hiểu cách tiếp cận của luật sư, đánh giá năng lực xử lý, và đưa ra quyết định hợp tác.
Một ngày tình cờ, bạn được luật sư nhờ hỗ trợ chỉnh slide báo giá. Hãy xem đó là cơ hội để quan sát cách luật sư tiếp cận và xử lý một vụ việc thực tế.
Cách tiếp cận đơn giản là dựa vào bản memo hoặc email đã được soạn trước, rồi chuyển nội dung sang slide PowerPoint. Nhưng nếu chỉ “copy – paste” nguyên văn vào slide thì họ không nhờ bạn làm gì. Người làm slide cần hình dung ra tình huống, từ đó chọn lọc nội dung cần thiết, sắp xếp lại cho ngắn gọn, rõ ràng và đúng trọng tâm. Việc này buộc bạn phải suy nghĩ như một người đang trực tiếp xử lý vụ việc.
Không ai bắt bạn làm slide màu mè. Nhưng một file trình bày rõ ràng, sạch sẽ, đúng ngữ pháp, bố cục hợp lý là dấu hiệu cho thấy bạn có tư duy trình bày tốt – và có khả năng truyền đạt vấn đề pháp lý phức tạp thành thông tin dễ hiểu.
Từ việc làm slide, bạn sẽ dần hình thành thói quen tư duy theo cấu trúc: ngắn – gọn – rõ, không lan man, không vòng vo. Kỹ năng này sẽ được dùng trong nhiều đầu việc chuyên môn của luật sư cấp cao về sau như:
- Chuẩn bị bài trình bày cho buổi họp với khách hàng;
- Tham gia pitching cho thương vụ mới;
- Thuyết trình nội bộ với đội pháp chế doanh nghiệp.
Những gì bạn học được từ việc làm slide khi thực tập sẽ giúp bạn chuyên nghiệp hơn, và tự tin hơn trong mắt khách hàng.
Suy cho cùng, nghề luật là nghề truyền đạt chính xác, mạch lạc và thuyết phục.
4. Cuối cùng
Ba kỹ năng trong bài viết này chỉ là một phần nhỏ trong hành trình học nghề luật từ những ngày đầu thực tập. Còn rất nhiều kỹ năng khác mà một thực tập sinh có thể học được nếu biết quan sát, lắng nghe và chủ động tiếp cận công việc.
Mỗi công việc được giao – dù là nhỏ nhất – đều có thể trở thành một “điểm rơi” để bạn rèn luyện sự cẩn trọng, tư duy hệ thống, khả năng truyền đạt, kỹ năng tổ chức và phối hợp trong môi trường làm việc chuyên nghiệp.
Những người hành nghề luật vững vàng không phải lúc nào cũng bắt đầu từ những việc lớn. Họ chỉ đơn giản là không bỏ lỡ cơ hội học từ những việc nhỏ.
Cùng chuyên mục
Mới nhất
Xem nhiều
Chọn thời điểm nộp đơn khởi kiện: Sự khác biệt giữa thắng và bại trong tranh tụng
Trong hành trình tranh tụng, việc nộp đơn khởi kiện không đơn thuần là một thủ tục pháp lý. Đó là một bước đi mang tính chiến lược có thể định hình toàn bộ cục diện vụ việc. Việc chọn đúng thời điểm khởi kiện giống như ra khơi vào thời điểm thuận lợi: biết mình sắp đối mặt với sóng to, gió lớn và sẵn sàng ứng phó với mọi kịch bản.
Thời gian là yếu tố sống còn
Một bên có thể yếu thế hơn trong nhiều khía cạnh, nhưng nếu biết chờ đúng thời cơ – khi chứng cứ đã được thu thập đầy đủ, hồ sơ đã được chuẩn bị kỹ lưỡng và có đủ cơ sở pháp lý – thì khả năng thành công sẽ cao hơn rất nhiều. Ngược lại, nếu hành động vội vàng khi chưa nắm chắc toàn bộ yếu tố pháp lý và thực tiễn thì chỉ tự đẩy mình vào thế bất lợi trước tòa.
Chuẩn bị kỹ lưỡng là điều không thể thiếu
Một luật sư giỏi không chỉ biết chọn đúng thời điểm mà còn phải chuẩn bị như một chiến lược gia. Mỗi văn bản, mỗi chứng cứ cần được đánh giá và kiểm tra kỹ lưỡng để không bỏ sót bất kỳ chi tiết nào. Từng bước đi đều cần được lên kế hoạch chi tiết nhằm đảm bảo chúng ta luôn ở thế chủ động khi đối diện với đối phương.
Nghề luật: Không chỉ là biện hộ mà còn là chiến lược
Biện hộ là kỹ năng quan trọng trong nghề luật nhưng chưa đủ để làm nên một luật sư giỏi. Muốn đi xa với nghề, người làm nghề luật cần có khả năng nhìn xa, trông rộng, biết nắm bắt và kiểm soát mọi yếu tố vận động trong vụ việc. Luật sư thành công không đơn thuần dựa vào kiến thức mà chính là nhờ sự tỉnh táo và nhạy bén trong từng quyết định – đặc biệt là quyết định về thời điểm hành động.
Thông điệp gửi đến những người làm công tác pháp chế
Đặc biệt, đối với những bạn đang làm pháp chế tại các doanh nghiệp, việc lựa chọn thời điểm khởi kiện càng đòi hỏi sự tỉnh táo và bản lĩnh. Đôi khi, bạn cần biết cách giải thích và vượt qua áp lực từ cấp trên để có thêm thời gian thu thập chứng cứ, hoàn thiện hồ sơ và chọn đúng thời điểm chín muồi nhằm giành lấy ưu thế ban đầu. Chỉ khi đó, bạn mới thực sự đảm đương đúng vai trò của một “luật sư nội bộ” – người bảo vệ lợi ích doanh nghiệp bằng sự kết hợp giữa kiến thức pháp lý và tư duy chiến lược.
Luật sư Nguyễn Hoàng Chương
Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Thương Nhân Việt Nam (VTA)
Cùng chuyên mục
Mới nhất
Xem nhiều
[Mới] Cơ chế lựa chọn Chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội không không thông qua đấu thầu
Nhằm tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính và đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà ở xã hội, Bộ Xây dựng đang dự thảo Nghị quyết của Quốc hội thí điểm về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội để trình Chính phủ. Một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo là cơ chế giao chủ đầu tư không qua đấu thầu đối với các dự án nhà ở xã hội. Chính sách này nhằm đơn giản hóa quy trình đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai dự án và đáp ứng nhu cầu nhà ở của người thu nhập thấp và công nhân lao động, gắn liền với việc thực hiện Đề án Đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030.
Hãy cùng Caselaw Việt Nam tìm hiểu chi tiết về cơ chế này để hiểu rõ hơn về các quy định, phạm vi áp dụng và quy trình thực hiện.
1. Cơ sở pháp lý của chính sách
Cơ chế giao chủ đầu tư không qua đấu thầu được xây dựng dựa trên các văn bản pháp luật và định hướng chính sách sau:
- Hiến pháp 2013, trong đó quy định Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm chỗ ở cho công dân.
- Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
- Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021- 2025
- Luật Nhà ở 2023, quy định về chính sách ưu đãi phát triển nhà ở xã hội.
- Luật Đấu thầu 2023, quy định về các trường hợp lựa chọn nhà đầu tư theo cơ chế đặc thù.
- Luật Đầu tư công 2024, điều chỉnh về thủ tục đầu tư và các trường hợp không áp dụng đấu thầu khi lựa chọn nhà đầu tư.
- Chỉ thị số 34-CT/TW năm 2024 của Ban Bí thư về phát triển nhà ở xã hội.
- Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội năm 2025 về thí điểm một số cơ chế đặc thù nhằm phát triển nhà ở xã hội.
2. Các trường hợp giao chủ đầu tư không qua đấu thầu
Theo Dự thảo Nghị quyết, cơ chế giao chủ đầu tư không qua đấu thầu áp dụng cho ba nhóm đối tượng sau
(i) Dự án nhà ở xã hội do UBND cấp tỉnh giao:
- UBND cấp tỉnh có thể giao trực tiếp chủ đầu tư đối với các dự án nhà ở xã hội không thuộc trường hợp do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hay Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý.
- Việc giao chủ đầu tư dựa trên danh mục dự án đã được công khai trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, Bộ Xây dựng và Hệ thống thông tin nhà ở và thị trường bất động sản.
- Nhà đầu tư phải có năng lực tài chính, kinh nghiệm và cam kết thực hiện đúng tiến độ.
(ii) Dự án nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân:
- Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có thể giao chủ đầu tư đối với dự án nhà ở phục vụ sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp.
- Chủ đầu tư phải đáp ứng đủ điều kiện theo Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Đầu tư.
(iii) Dự án nhà ở xã hội sử dụng nguồn tài chính công đoàn:
- Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được giao chủ đầu tư đối với các dự án nhà ở xã hội dành cho công nhân, người lao động.
- Việc triển khai phải đảm bảo mức giá nhà ở phù hợp với thu nhập của công nhân và sử dụng nguồn tài chính minh bạch.
3. Quy trình giao chủ đầu tư không qua đấu thầu
Một điểm đáng chú ý trong Dự thảo Nghị quyết là các dự án nhà ở xã hội không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư. Thay vào đó, văn bản giao chủ đầu tư sẽ thay thế văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư, giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính và rút ngắn thời gian triển khai dự án.
Theo quy định tại Điều 31, 32 Luật Đầu tư, các dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội sử dụng vốn ngoài đầu tư công phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, do các dự án này đã được quản lý thông qua việc phê duyệt quy hoạch, chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở, bố trí quỹ đất và giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nên Dự thảo Nghị quyết đề xuất miễn thủ tục này nhằm đẩy nhanh tiến độ đầu tư. Việc miễn thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư cũng tương tự như cơ chế đã được áp dụng cho các dự án đường sắt đô thị theo Nghị quyết số 188/2025/QH15, trong đó quy định các dự án được thực hiện ngay việc lập, thẩm định, quyết định đầu tư mà không phải qua bước lập và thẩm định chủ trương đầu tư.
Dự thảo Nghị quyết quy định một quy trình trong việc giao chủ đầu tư nhằm đảm bảo tính công khai và hiệu quả:
- Công bố danh mục dự án: UBND cấp tỉnh hoặc cơ quan có thẩm quyền công bố danh mục dự án nhà ở xã hội trên Cổng thông tin điện tử.
- Tiếp nhận hồ sơ đăng ký: Các doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính, kinh nghiệm có thể đăng ký làm chủ đầu tư.
- Xét duyệt và lựa chọn chủ đầu tư: Dựa trên các tiêu chí về năng lực tài chính, kinh nghiệm thực hiện dự án, tiến độ cam kết, phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng.
- Ban hành quyết định giao chủ đầu tư: Sau khi xét duyệt, cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định giao chủ đầu tư, đồng thời thay thế văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư.
4. Một số nội dung liên quan đến cơ chế giao chủ đầu tư
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có thể trực tiếp quản lý các dự án nhà ở xã hội phù hợp với đối tượng thụ hưởng.
Nhà đầu tư được giao chủ đầu tư phải đáp ứng các tiêu chí nhất định theo quy định của Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và các văn bản hướng dẫn liên quan.
Dự thảo cũng quy định rõ việc công bố thông tin, tiếp nhận hồ sơ và xét duyệt để đảm bảo quá trình giao chủ đầu tư được thực hiện theo đúng quy định.
5. Lộ trình thực hiện
Dự thảo Nghị quyết được dự kiến trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 9 (tháng 4/2025). Nếu được Chính phủ đồng ý, Bộ Xây dựng sẽ phối hợp Bộ Tư pháp và các Bộ liên quan xây dựng Hồ sơ, Dự thảo Nghị quyết để trình Quốc hội.
Cùng chuyên mục
Mới nhất
Xem nhiều
Bảo vệ dữ liệu cá nhân theo pháp luật Việt Nam: Điều bạn cần biết để an toàn
Dữ liệu cá nhân – nghe thì “luật” đấy, nhưng thực ra nó gần gũi hơn bạn nghĩ. Tên, số điện thoại, email, hay thậm chí ảnh selfie bạn đăng lên mạng đều là dữ liệu cá nhân. Trong thời đại công nghệ, những thông tin này quý như vàng, nhưng cũng dễ bị “đánh cắp” nếu không cẩn thận. May mắn thay, pháp luật Việt Nam đã có những quy định để bảo vệ chúng ta. Bài viết này sẽ giới thiệu cơ bản về bảo vệ dữ liệu cá nhân theo luật Việt Nam, giúp bạn – dù là người mới hay sinh viên luật – hiểu rõ hơn nhé!
Dữ liệu cá nhân là gì? Đừng nghĩ xa xôi!
Theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân (có hiệu lực từ 1/7/2023), hiểu đơn giản rằng dữ liệu cá nhân là thông tin liên quan đến một người cụ thể, như họ tên, ngày sinh, số CCCD, địa chỉ, hay cả thông tin nhạy cảm như sức khỏe, tài khoản ngân hàng. Nói đơn giản, bất cứ thứ gì “nói lên bạn là ai” đều là dữ liệu cá nhân.
Ví dụ nhé: Bạn đăng ký một ứng dụng mua sắm online, điền tên, số điện thoại, địa chỉ giao hàng. Đó là dữ liệu cá nhân. Hay khi bạn đi khám bệnh, bác sĩ ghi lại tình trạng sức khỏe – đó cũng là dữ liệu cá nhân, nhưng nhạy cảm hơn. Pháp luật bảo vệ để đảm bảo những thông tin này không bị lạm dụng.
Pháp luật Việt Nam bảo vệ dữ liệu cá nhân thế nào?
Trước đây, pháp luật Việt Nam chưa có quy định riêng về dữ liệu cá nhân, mà chỉ rải rác trong các văn bản như Bộ luật Dân sự 2015 hay Luật An toàn thông tin mạng 2015. Nhưng từ khi Nghị định 13/2023/NĐ-CP ra đời, mọi thứ rõ ràng hơn. Đây là văn bản đầu tiên tập trung vào bảo vệ dữ liệu cá nhân, áp dụng cho cả cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức.
Luật yêu cầu:
- Đồng ý trước khi thu thập: Ai muốn lấy dữ liệu của bạn phải xin phép, trừ vài trường hợp đặc biệt (chẳng hạn như cơ quan nhà nước điều tra).
- Sử dụng đúng mục đích: Dữ liệu chỉ được dùng cho việc đã nói rõ, không “tự ý” làm chuyện khác.
- Bảo mật an toàn: Doanh nghiệp phải có biện pháp giữ thông tin của bạn không bị rò rỉ.
Ví dụ: Bạn tải app học tiếng Anh, họ hỏi “Cho phép dùng số điện thoại để gửi thông báo không?”. Bạn đồng ý, họ chỉ được gửi tin học tập, không được tự ý bán số của bạn cho bên quảng cáo kem đánh răng, hoặc cho bọn lừa đảo ở bên Campuchia chẳng hạn. Nếu làm sai, họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Ví dụ thực tế: Khi dữ liệu cá nhân bị “lạm dụng”
Để bạn thấy rõ luật quan trọng thế nào, mình kể một câu chuyện nhé. Giả sử bạn Hùng đăng ký thẻ thành viên ở một siêu thị. Hùng điền tên, số điện thoại, email để được giảm giá. Nhưng vài tuần sau, Hùng nhận hàng tá tin nhắn quảng cáo từ các công ty bảo hiểm, bất động sản – toàn chỗ anh chẳng hề biết! Hóa ra siêu thị đã bán thông tin của Hùng mà không xin phép. Đây là hành vi vi phạm luật, vì theo Nghị định 13/2023, siêu thị phải được Hùng đồng ý trước khi chia sẻ dữ liệu.
Một ví dụ khác: Chị Lan đi làm đẹp ở spa, để lại số điện thoại. Sau đó, thông tin của chị bị lộ, kẻ xấu dùng để lừa đảo, nhắn tin giả danh ngân hàng đòi nợ. Nếu spa không bảo mật dữ liệu tốt, họ phải chịu trách nhiệm.
Quyền của bạn trong việc bảo vệ dữ liệu
Luật không chỉ “bắt” doanh nghiệp mà còn trao quyền cho bạn. Theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP, bạn có thể:
- Yêu cầu xóa dữ liệu: Nếu không muốn họ giữ thông tin nữa, bạn có quyền đòi xóa.
- Kiểm tra dữ liệu: Bạn được hỏi họ đang dùng thông tin của mình để làm gì.
- Khiếu nại nếu bị lạm dụng: Nếu dữ liệu bị dùng sai, bạn có thể báo cơ quan chức năng.
Ví dụ: Bạn thấy một ứng dụng cứ gửi tin nhắn rác dù bạn không đồng ý, bạn có thể yêu cầu họ xóa số điện thoại của mình. Nếu họ không làm, bạn báo lên phía công an – họ sẽ xử lý.
Tại sao cần quan tâm?
Với sinh viên luật, hiểu về bảo vệ dữ liệu cá nhân là bước đầu để nắm luật trong thời đại số. Còn với người bình thường, nó giúp bạn tự bảo vệ mình. Dữ liệu cá nhân bị lộ không chỉ phiền toái mà còn nguy hiểm – từ lừa đảo đến mất tiền. Chỉ cần cẩn thận khi chia sẻ thông tin và biết quyền của mình, bạn đã an toàn hơn nhiều.
Giữ dữ liệu như giữ ví tiền – Đừng chủ quan kẻo tiền mất tật mang
Bảo vệ dữ liệu cá nhân theo pháp luật Việt Nam không phải chuyện xa vời, mà là điều bạn gặp hàng ngày. Từ việc đăng ký app, đi khám bệnh, đến mua sắm, luật đều có cách giữ thông tin của bạn an toàn. Hãy nhớ: dữ liệu cá nhân giống như chiếc ví – đừng để ai “móc” mất, và nếu có chuyện gì, pháp luật đứng về phía bạn!
Tác giả: Hà Mạnh Tú
Luật sư cấp cao Công ty TNHH Công nghệ Huawei Việt Nam
Cùng chuyên mục
Mới nhất
Xem nhiều
Áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại đối với sản phẩm đường mía (AC02.AD13-AS01)
Giới thiệu tổng quan
Bộ Công Thương đã áp dụng biện pháp chống lẩn tránh phòng vệ thương mại (PVTM), bao gồm chống bán phá giá (CBPG) và chống trợ cấp (CTC), đối với sản phẩm đường mía nhập khẩu từ Lào, Campuchia, Indonesia, Malaysia, và Myanmar. Đây là biện pháp nhằm ngăn chặn tình trạng lẩn tránh các biện pháp phòng vệ trước đó, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh cho ngành sản xuất trong nước. Biện pháp này chính thức có hiệu lực từ ngày 9/8/2022 và dự kiến kéo dài đến ngày 15/6/2026, trừ trường hợp có thay đổi theo quy định pháp luật.
1. Thông tin vụ việc
1.1. Bên yêu cầu
- Công ty Cổ phần Mía đường Sơn Dương
- Công ty Cổ phần Mía đường Sơn La
- Công ty Cổ phần TNHH Công nghiệp KCP Việt Nam
- Công ty Cổ phần Mía đường Cần Thơ
- Công ty Cổ phần Mía đường 333
- Công ty Cổ phần Mía đường Sóc Trăng
1.2. Hàng hóa bị áp dụng biện pháp chống lẩn tránh PVTM
- Tên khoa học: Đường sacarose (sucrose)
- Tên gọi thông thường: Đường cát, đường mía, đường kính, đường thô, đường trắng, đường tinh luyện, đường RE, đường RS
- Phân loại mã HS: 1701.13.00, 1701.14.00, 1701.91.00, 1701.99.10, 1701.99.90, 1702.90.91
(Danh sách mã HS có thể được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tế)
1.3. Xuất xứ hàng hóa bị áp dụng biện pháp PVTM
- Campuchia, Lào, Malaysia, Myanmar, Indonesia
2. Mức thuế và thời gian áp dụng biện pháp
Mức thuế CBPG và CTC
Bảng 1 (AC02.AD13-AS01): Mức thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp (áp dụng từ 9/8/2022 đến 15/6/2026)
Quốc gia |
Thuế CBPG |
Thuế CTC |
Campuchia |
42,99% |
4,65% |
Indonesia |
42,99% |
4,65% |
Lào |
42,99% |
4,65% |
Malaysia |
42,99% |
4,65% |
Myanmar |
42,99% |
4,65% |
Loại trừ áp dụng biện pháp PVTM đối với:
Hàng hóa được sản xuất bởi các công ty sau không thuộc phạm vi áp dụng biện pháp:
- Kampong Speu Sugar Co., Ltd.
- Kasekam Youveakchun Svay Rieng Co., Ltd.
- PT. Kebun Tebu Mas
- Mitr Lao Sugar Company Limited
- Savannakhet Sugar Corporation
- TTC Attapeu Sugar Cane Sole Co., LTD
- Than Daung OO Company Limited
- Ngwe Yi Pale Sugar Company Limited
Thời hạn áp dụng
- Thời gian hiệu lực: Từ 9/8/2022 đến 15/6/2026
- Gia hạn và rà soát: Có thể thay đổi theo các quyết định bổ sung của Bộ trưởng Bộ Công Thương.
3. Tình trạng vụ việc hiện nay
- Hiện tại: Biện pháp chống lẩn tránh biện pháp PVTM đang được áp dụng đối với hàng hóa từ các quốc gia nêu trên.
4. Văn bản pháp luật liên quan đến vụ việc
- Quyết định 1407/QĐ-BCT năm 2024: Công bố kết quả rà soát nhà xuất khẩu mới.
- Quyết định 494/QĐ-BCT năm 2024: Gia hạn thời hạn rà soát nhà xuất khẩu mới.
Các sự kiện đáng chú ý
Thời gian |
Sự kiện |
21/09/2021 |
Khởi xướng điều tra |
01/08/2022 |
Ban hành quyết định áp dụng biện pháp chống lẩn tránh PVTM |
28/03/2023 |
Công bố kết quả rà soát nhà xuất khẩu mới |
11/12/2023 |
Ban hành quyết định rà soát nhà xuất khẩu mới |
11/03/2024 |
Gia hạn thời hạn rà soát nhà xuất khẩu mới |
10/06/2024 |
Công bố kết quả rà soát nhà xuất khẩu mới |
Xem thêm: Toàn cảnh áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại tại Việt Nam – 29 vụ việc từ 2009 đến 2024
Cùng chuyên mục
Mới nhất
Xem nhiều
Ra mắt tool tính Thuế chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
Kính chào Quý khách hàng,
Caselaw Việt Nam trân trọng thông báo tính năng mới: Tính thuế Chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam tại https://caselaw.vn/tinh-thue-chong-ban-pha-gia.
Tính năng Tính thuế Chống bán phá giá sẽ là công cụ hữu ích giúp cho các nhà xuất khẩu nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam thực hiện các công việc vốn trước đây đòi hỏi nhiều thời gian để nghiên cứu quy định pháp luật và tham vấn luật sư:
(i) Kiểm tra nhanh mã HS hàng hóa nào bị áp thuế Chống bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam;
(ii) Biết được mức thuế suất thuế Chống bán phá giá và Tính số tiền thuế Chống bán phá giá;
(iii) Theo dõi tình trạng thuế suất thuế Chống bán phá giá của từng mã HS;
Theo Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 ngày 06/04/2016 của Quốc Hội, Thuế chống bán phá giá là thuế nhập khẩu bổ sung được áp dụng trong trường hợp hàng hóa bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong.
(i) Kiểm tra nhanh mã HS hàng hóa nào bị áp thuế Chống bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam
Kết quả kiểm tra sau khi nhập mã HS 8 số:
(ii) Xem mức thuế suất thuế Chống bán phá giá và tính số tiền thuế Chống bán phá giá:
Dữ liệu tính thuế và công thức tính thuế Chống bán phá giá được các chuyên gia cố vấn của Caselaw Việt Nam tổng hợp chính xác dựa trên các quyết định về áp thuế chống bán phá giá của Bộ Công thương. Sau khi nhập đủ các thông tin vào các ô dữ liệu và bấm nút tính thuế, bạn sẽ biết được chính xác số thuế Chống bán phá giá phải nộp. Kết quả hiển thị đi kèm với các thông tin về: mức thuế suất, thời gian áp thuế, quốc gia bị áp thuế và các công ty xuất khẩu.
(iii) Theo dõi tình trạng thuế suất thuế Chống bán phá giá của từng mã HS:
Tại trang thông chi tiết của mỗi mã HS, ví dụ như mã 29224220, ngoài thông tin về các loại thuế suất như: thuế VAT, thuế nhập khẩu ưu đãi, thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo các hiệp định FTA(s), Quý khách hàng sẽ được xem thêm thuế Chống bán phá giá theo từng thời gian, quốc gia xuất khẩu, công ty xuất khẩu.
Caselaw Việt Nam luôn mong muốn mang đến cho Quý khách hàng các tiện ích nhằm hỗ trợ hiệu quả cho công việc.
Chúng tôi rất vui khi được đồng hành cùng Quý khách hàng.
Trân trọng,
Caselaw Việt Nam Team
Cùng chuyên mục
Mới nhất
Xem nhiều
7 mẫu hợp đồng được sử dụng để thực thi quyền sử dụng đất (đặt cọc, góp vốn, cho mượn, chuyển nhượng, thế chấp, hợp tác kinh doanh...)
1. Thỏa Thuận Đặt Cọc Mua Đất Nông Nghiệp
- Xem tại: https://caselaw.vn/hop-dong-mau/BqXxug9SI9/thoa-thuan-dat-coc-mua-dat-nong-nghiep
- Số lượng điều khoản: 4 điều
- Ngôn ngữ: tiếng Việt
2. Hợp Đồng Hợp Tác Kinh Doanh Góp Vốn Bằng Giá Trị Quyền Sử Dụng Đất
- Xem tại: https://caselaw.vn/hop-dong-mau/ROoRhUD1cN/hop-dong-hop-tac-kinh-doanh-gop-von-bang-gia-tri-quyen-su-dung-dat
- Số lượng điều khoản: 11 điều
- Ngôn ngữ: tiếng Việt
3. Hợp Đồng Chuyển Nhượng Quyền Sử Dụng Đất Và Tài Sản Gắn Liền Trên Đất (Xây Dựng Cửa Hàng Xăng Dầu)
- Xem tại: https://caselaw.vn/hop-dong-mau/AG0f9aFL00/hop-dong-chuyen-nhuong-quyen-su-dung-dat-va-tai-san-gan-lien-tren-dat-xay-dung-cua-hang-xang-dau
- Số lượng điều khoản: 5 điều
- Ngôn ngữ: tiếng Việt
4. Hợp Đồng Cho Mượn Đất
- Xem tại: https://caselaw.vn/hop-dong-mau/lIzkSubzKW/hop-dong-cho-muon-dat
- Số lượng điều khoản: 12 điều
- Ngôn ngữ: tiếng Việt
5. HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở (MS 01)
- Xem tại: https://caselaw.vn/hop-dong-mau/3opJBbrs7V/hop-dong-chuyen-nhuong-quyen-su-dung-dat-va-quyen-so-huu-nha-o-ms-01
- Số lượng điều khoản: 15 điều
- Ngôn ngữ: tiếng Việt
6. HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC Chuyển nhượng quyền sử dụng đất (MS 01)
- Xem tại: https://caselaw.vn/hop-dong-mau/921tNDPcw6/hop-dong-dat-coc-chuyen-nhuong-quyen-su-dung-dat-ms-01
- Số lượng điều khoản: 8 điều
- Ngôn ngữ: tiếng Việt
7. HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP Quyền sử dụng đất và căn hộ (MS 01)
- Xem tại: https://caselaw.vn/hop-dong-mau/8D3CfBTSyz/hop-dong-the-chap-quyen-su-dung-dat-va-can-ho-ms-01
- Số lượng điều khoản: 14 điều
- Ngôn ngữ: tiếng Việt
Cùng chuyên mục
Mới nhất
Xem nhiều
Tuyển tập 11 án lệ được Hội Đồng Thẩm Phán TANDTC ban hành trong năm 2018
Đang cập nhật
Cùng chuyên mục
Mới nhất
Xem nhiều
(Dự thảo án lệ số 1) Quyết định GĐT số 01/2017/KDTM-GĐT ngày 1/3/2017 về công nhận hợp đồng thế chấp QSDĐ mà trên đất có tài sản không thuộc sở hữu của bên thế chấp
Án lệ số /2017/AL về công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản không thuộc sở hữu của bên thế chấp
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày… tháng … năm 2017 và được công bố theo Quyết định số …/QĐ-CA ngày … tháng … năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 01/2017/KDTM-GĐT ngày 01-3-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh, thương mại “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là Ngân hàng A với bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 10 người.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 4 phần “Nhận định của Toà án”
Khái quát nội dung của án lệ:
- Tình huống án lệ 1:
Một bên thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nhưng trên đất còn có tài sản thuộc sở hữu của người khác;hình thức và những nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật.
- Giải pháp pháp lý 1:
Trường hợp này, Tòa án phải xác định hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật.
- Tình huống án lệ 2:
Bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận bên nhận thế chấp được bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản gắn liền với đất không thuộc sở hữu của người sử dụng đất.
- Giải pháp pháp lý 2:
Trường hợp này, khi giải quyết Tòa án phải dành cho chủ sở hữu nhà trên đất được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó nếu họ có nhu cầu.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với Điều 318 Bộ luật dân sự năm 2015); Điều 715, Điều 721Bộ luật Dân sự năm 2005; mục 4 khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22-02-2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (pháp điển hóa tại khoản 2 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Từ khóa của án lệ:
“Thế chấp quyền sử dụng đất”; “Trên đất có tài sản của người khác”; “Thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp”; “Ưu tiên nhận chuyển nhượng”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 6/10/2011 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là Ngân hàng A trình bày:
Ngày 16-6-2008, Ngân hàng A (sau đây viết tắt là Ngân hàng)và Công ty trách nhiệm hữu hạnB (sau đây viết tắt là Công ty B) ký Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142. Theo đó, Ngân hàng cho Công ty B vay 10.000.000.000 đồng và/hoặc bằng ngoại tệ tương đương. Mục đích cấp tín dụng để bổ sung vốn lưu động phục vụ kinh doanh theo nghề đăng ký của Công ty B.
Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân tổng cộng 3.066.191.933 đồng cho Công ty Btheo các Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ. Tính đến ngày 05-10-2011, Công ty Bcòn nợ gốc và lãi của 03 Khế ước là 4.368.570.503 đồng (trong đó nợ gốc là 2.943.600.000 đồng, nợ lãi là 1.424.970.503 đồng).
Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là nhà, đất [thửa đất số 43, tờ bản đồ số 5I-I-33 (1996)] tại số 432, tổ 28, phường E, quận G, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông H và bà N (theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số 10107490390 do Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 07-12-2000), do ông H, bà N thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11-6-2008. Hợp đồng thế chấp này được Phòng công chứng số 6 thành phố Hà Nội công chứng ngày 11-6-2008 và Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 11-6-2008.
Ngày 30-10-2009, Ngân hàng và Công ty Btiếp tục ký Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200900583. Theo đó, Ngân hàng cho Công ty B vay 180.000 USD. Mục đích vay để thanh toán tiền vận chuyển hàng hóa lô hàng xuất khẩu; thời hạn vay 09 tháng; lãi suất vay 5,1%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150%.
Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền vay 180.000 USD cho Công ty B. Công ty B mới trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 100.750 USD và số nợ lãi là 1.334,50 USD. Tính đến ngày 05-10-2011, Công ty Bcòn nợ gốc là 79.205 USD và nợ lãi là 16.879,69 USD. Tổng cộng cả nợ gốc và lãi là 96.120,69 USD.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-2009058 gồm:
- Lô hàng 19 xe ô tô tải thành phẩm trọng tải 1,75 tấn hiệu JMP mới 100% trị giá 2.778.750.000 đồng (do Công ty B lắp ráp theo phương thức hàng để kho đơn vị, Ngân hàng giữ Giấy chứng nhân đăng kiểm chất lượng xe xuất xưởng) do Công ty Bthế chấp theo Hợp đồng thế chấpsố 219/2009/EIBHBT-CC ngày 29-10-2009. Hợp đồng thế chấp này được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Cục đăng ký giao dịch bảo đảm thành phố Hà Nội ngày 02-11-2009;
- Số dư tài khoản tiền gửi kỳ hạn 03 tháng trị giá 1.620.000.000 đồng do Ngân hàng phát hành. Do Công ty Bđã thực hiện được một phần nợ vay nên Ngân hàng đã giải chấp số tiền 1.620.000.000 đồng tiền gửi trong tài khoản tiết kiệm của Công ty B, tương ứng với số nợ đã thanh toán.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Ngân hàng xác nhận: đối với khoản vay 180.000 USD, Công ty B đã trả xong nợ gốc; chỉ còn lại nợ lãi là 5.392,81 USD; tài sản bảo đảm là 19 xe ô tô, hiện đã bán 18 chiếc, còn lại 01 chiếc; đề nghị Tòa án cho xử lý nốt chiếc xe còn lại để thu hồi nợ vay còn thiếu.
Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc:
- Công ty Bthanh toán số nợ gốc và lãi bằng VNĐ của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142 là 4.368.570.503 đồng;
- Công ty Bthanh toán 5.392,81 USD nợ lãi bằng USD của Hợp đồng tín dụng số 1702-LVA-200900583.
Trong trường hợp, Công ty Bkhông thanh toán hoặc thanh toán không đủ đề nghị Tòa án phát mãi tài sản thế chấp là:
- Quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở tại số 432, tổ 28, phường E, quận G, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông H và bà N;
- 01 xe ô tô tải thành phẩm, trọng tải 1,75 tấn, hiệu JMP mới 100% do Công ty Blắp ráp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 219/2009/EIBHBT- CC ngày 29-10-2009.
Đại diện bị đơn là anh T - Tổng Giám đốc Công ty B trình bày: Thừa nhận số tiền nợ gốc, lãi và tài sản thế chấp như Ngân hàng trình bày nhưng đề nghị Ngân hàng cho trả nợ dần.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông H và bà N trình bày: Ông bàthừa nhận ký hợp đồng thế chấp nhà, đất số 432 nêu trên để bảo đảm cho khoản vay tối đa là 3.000.000.000 đồng của Công ty B. Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm. Gia đình ông H và bà N cũng đã hỗ trợ Công ty trả được gần 600.000.000 đồng cho khoản vay có tài sản thế chấp là nhà và đất của ông bà. Ông, bà đề nghị Ngân hàng gia hạn khoản nợ của Công ty Bđể Công ty có thời gian phục hồi sản xuất, thu xếp trả nợ cho Ngân hàng; đề nghị Tòa án không triệu tập các con trai, con dâu, con gái và con rể của ông bà đến Tòa án làm việc.
Anh P thay mặt cho những người con, cháu của ông H, bà N đang sống tại nhà, đất số 432 trình bày:
Cuối năm 2010, anh mới biết bố mẹ anh thế chấp nhà đất của gia đình đang ở để bảo đảm cho khoản vay của Công ty B. Sau khi ông H, bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở năm 2000, anh Pvà anh Q đã bỏ tiền ra xây dựng thêm một ngôi nhà 3,5 tầng trên đất và 16 người trong gia đình hiện đang ở tại nhà, đất số 432 nêu trên. Khi ký hợp đồng thế chấp, Ngân hàng không hỏi ý kiến các anh và những người đang sinh sống tại nhà, đất này. Do đó, anh đề nghị Tòa án không công nhận hợp đồng thế chấp và xem xét số tiền 550.000.000 đồng mà anh em các anh đóng góp vào trả nợ cho Công ty B theo Hợp đồng tín dụng có tài sản bảo đảm là nhà, đất số 432 nêu trên nhưng Ngân hàng tự ý trừ vào khoản vay ngoại tệ có tài sản bảo đảm là 19 xe ô tô là không đúng.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 59/2013/KDTM-ST ngày 24/9/2013, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với Công ty TNHH B.
- Buộc Công ty TNHH B phải thanh toán trả cho Ngân hàng A số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142, bao gồm:nợ gốc là 2.813.600.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 2.080.977.381 đồng; nợ lãi quá hạntính đến ngày 23-9-2013 là 1.036.575.586đồng; tiền lãi phạt chậm trảtính đến ngày 23-9-2013 là 123.254.156 đồng; Tổng cộng: 6.054.407.123 đồng.
- Buộc Công ty TNHHBphải thanh toán trả cho Ngân hàng A số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800583, gồm số tiền nợ lãi quá hạn là 5.392,81 USD.
Trong trường hợp Công ty TNHH Bkhông trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142, thì Ngân hàng Acó quyền yêu cầu Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại thửa số 43, tờ bản đồ số 5I-I-33 (1996) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số 10107490390 do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 07-12-2000 cho ông H và bà N tại địa chỉ số 432, tổ 28, phường E, quận G, thành phố Hà Nội để thu hồi nợ…
Trường hợp Công ty TNHH Bkhông trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800583, thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội xử lý tài sản bảo đảm là 01 chiếc xe ô tô tải, trọng tải 1,75 tấn hiệu JMP do Công ty TNHH Blắp ráp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 219/2009/EIBHBT-CC ngày 29-10-2009 để thu hồi nợ.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 111/2014/KDTM-PT ngày 07-7-2014, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định:
Giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 59/2013/KDTM-ST ngày 24-9-2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về Hợp đồng tín dụng, về các khoản tiền vay và tiền Công ty B phải trả Ngân hàng A;hủy phần quyết định của Bản án sơ thẩm số 59/2013/KDTM-ST ngày 24-9-2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần hợp đồng thế chấp, bảo đảm của người thứ 3, cụ thể:
… Hủy phần quyết định về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người thứ 3 (nhà đất số 432, tổ 28 phường E, quận G, thành phố Hà Nội) ký ngày 11-6-2008 tại Phòng công chứng số 6 thành phố Hà Nội và đăng ký tài sản bảo đảm tại Sở tài nguyên và môi trường thành phố Hà Nội ngày 11-6-2008…
Giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để xác minh, thu thập chứng cứ và xét xử lại, xác định phần tài sản hợp pháp thuộc sở hữu của ông H, bà N làm tài sản thế chấp bảo đảm cho Công ty TNHH B đối với khoản tiền vay ở Ngân hàng A theo Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142 ngày 16-6-2008.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.
Sau khi xét xử phúc thẩm, Ngân hàng, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có văn bản đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tại Kháng nghị giám đốc thẩm số 14/2016/KDTM-KN ngày 12-4-2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 111/2014/KDTM-PT ngày 7-7-2014 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 111/2014/KDTM-PT ngày 7-7-2014 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 59/2013/KDTM-ST ngày 24-9-2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xử hủy bản án phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Hồ sơ vụ án thể hiện, để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142 ngày 16-6-2008 tại Ngân hàng của Công ty B do anh T là con trai ông H, bà N làm Giám đốc, thì ngày 11-6-2008, ông H và bà N đã thế chấp nhà, đất tại số 432,tổ 28, phường E, quận G, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông H, bà N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11-6-2008. Hợp đồng thế chấp này được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở ngày 07/12/2000, thì nhà, đất tại số 432, tổ 28, phường E, quận G, thành phố Hà Nội (sau đây viết tắt là nhà, đất số 432), gồm: diện tích đất ở 147,7 m2, diện tích nhà ở 85 m2, kết cấu nhà: bê tông và xây gạch; số tầng: 02+01. Khi thẩm định tài sản thế chấp, Ngân hàng biết trên diện đất 147,7 m2 ngoài căn nhà 02 tầng đã được đăng ký sở hữu, còn có căn nhà 3,5 tầng chưa đăng ký sở hữu nhưng Ngân hàng chỉ định giá quyền sử dụng đất và căn nhà 02 tầng đã đăng ký sở hữu với tổng giá trị nhà, đất là 3.186.700.000 đồng, mà không thu thập thông tin, tài liệu để xem xét làm rõ nguồn gốc cũng như ai là chủ sở hữu căn nhà 3,5 tầng là thiếu sót, không đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 06-6-2012, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, xác định: nhà, đất số 432 có 02 khối nhà (gồm: khối nhà thứ nhất: diện tích chiếm đất là 37,5 m2, chiều dài 5,9 m, chiều rộng 6,35 m; khối nhà thứ hai là nhà bê tông ba tầng có ban công, diện tích 61,3 m2) và hiện có 16 người thường trú, đăng ký dài hạn, thường xuyên sinh sống. Trước khi xét xử sơ thẩm, ngày 21-9-2013, anh P (con trai ông H, bà N) có Đơn kiến nghị gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội cho rằng sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở năm 2000, do khó khăn về chỗ ở, năm 2002, gia đình ông H, bà N đã thống nhất để anh P và những người con của ông H, bà N bỏ tiền ra xây dựng thêm căn nhà 3,5 tầng bên cạnh căn nhà 02 tầng cũ trên thửa đất nói trên. Như vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội biết trên thực tế hiện trạng thửa đất khi thế chấp đã có 02 căn nhà (căn nhà 02 tầng cũ và căn nhà 3,5 tầng) không đúng theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở năm 2000 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11-6-2008. Khi giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có xem xét yêu cầu của anh P và những người con ông H, bà N liên quan đến căn nhà 3,5 tầng nhưng Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội không quyết định rõ có xử lý phát mãi căn nhà 3,5 tầng hay không là không đúng, không đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.
[4] Theo quy định tại mục 4 khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm: “Trong trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất theo như thỏa thuận giữa người sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quyền và nghĩa vụ giữa bên thế chấp và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người mua, người nhận chính quyền sử dụng đất”. Trong vụ án này, khi ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, bên thế chấp (ông H, bà N) và bên nhận thế chấp (Ngân hàng) đều biết rõ trên thửa đất của ông H, bà N ngoài căn nhà 02 tầng đã được đăng ký quyền sở hữu thì trên đất còn có một căn nhà 3,5 tầng chưa được đăng ký quyền sở hữu nhưng các bên chỉ thỏa thuận thế chấp tài sản gồm quyền sử dụng đất và căn nhà 02 tầng gắn liền với đất. Trường hợp trên đất có nhiều tài sản gắn liền với đất mà có tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất, có tài sản thuộc sở hữu của người khác mà người sử dụng đất chỉ thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của mình, hợp đồng thế chấp có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật thì hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11-6-2008 có một phần bị vô hiệu (phần có căn nhà 3,5 tầng); xử hủy phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hợp đồng thế chấp và giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để xác minh, thu thập chứng cứ xác định phần tài sản hợp pháp thuộc sở hữu của ông H, bà N và xét xử lại là không đúng. Lẽ ra, với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm cần xem xét, quyết định về xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và căn nhà thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông H, bà N theo quy định của pháp luật. Khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm cần yêu cầu đương sự cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh nguồn gốc hình thành căn nhà 3,5 tầng nêu trên để giải quyết vụ án bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho những người đã bỏ tiền ra xây dựng nhà và đang sinh sống tại đó. Đồng thời, Tòa án cấp phúc thẩm cần hỏi ý kiến, động viên, khuyến khích các đương sự thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp. Trường hợp bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận bên nhận thế chấp được bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng diện tích đất mà trên đất có nhà thuộc sở hữu của người khác không phải là người sử dụng đất thì cần dành cho chủ sở hữu nhà đó được quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu mua (nhận chuyển nhượng).
[5] Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ theo thỏa thuận của các bên tại khoản 5.4 Điều 5 Hợp đồng tín dụng về lãi phạt chậm trả trên số lãi chưa thanh toán “lãi phạt chậm trả là quá 10 ngày kể từ ngày đáo hạn, mức lãi phạt là 2% trên số lãi chưa thanh toán; quá 30 ngày kể từ ngày đáo hạn, mức lãi phạt là 5% trên số lãi chưa thanh toán” để chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng buộc Công ty B phải trả số tiền lãi phạt chậm trả123.254.156 đồng là không đúng pháp luật, không được chấp nhận vì đây là lãi chồng lãi. Tòa án cấp phúc thẩm không phát hiện ra sai sót này, vẫn giữ nguyên quyết định này của bản án sơ thẩm cũng là không đúng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 337, khoản 3 Điều 343, Điều 345 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25-11-2015 về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 14/2016/KDTM-KN ngày 12-4-2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
2. Hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 111/2014/KDTM-PT ngày 07-7-2014 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội về vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng A, bị đơn là Công ty TNHH B và 10 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm đúng quy định của pháp luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[4] Trường hợp trên đất có nhiều tài sản gắn liền với đất mà có tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất, có tài sản thuộc sở hữu của người khác mà người sử dụng đất chỉ thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của mình, hợp đồng thế chấp có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật thì hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật…
…Trường hợp bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận bên nhận thế chấp được bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng diện tích đất mà trên đất có nhà thuộc sở hữu của người khác không phải là người sử dụng đất thì cần dành cho chủ sở hữu nhà đó được quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu mua (nhận chuyển nhượng).”
(nguồn: anle.toaan.gov.vn)