(Dự thảo án lệ số 6) Quyết định GĐT số 405/2012/DS-ỌĐT ngày 27/8/2012 về việc xử lý nhà, tài sản khác được xây dựng ngay tình trên đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của người khác
Án lệ số …./2017 về việc xử lý nhà, tài sản khác được xây dựng ngay tình trên đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của người khác
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày... tháng... năm... và được công bố theo Quyết định số.../QĐ-CA ngày... tháng... năm... của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 405/2012/DS-GĐT ngày 27-8-2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “tranh chấp quyền sử dụng đất” tại tỉnh Cà Mau giữa Mạc Thị Đ; bị đơn là anh Phạm Văn D, Trương Thị H; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị D, anh Nguyễn Văn S, chị Lê Thị L, bà Nguyễn Thị M,Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển chi nhánh huyện CN.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 5 phần “Nhậnđịnh của Toàán”.
Khái quát nội dung án lệ:
- Tình huống án lệ:
Đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn nhưng bị đơn đã xây dựng nhà và các tài sản khác ngay tình trên đất trong thời gian quản lý, sử dụng đất đó.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải xác định giá trị của nhà và các tài sản khác gắn liền với đất đó tại thời điểm xét xử sơ thẩm để yêu cầu nguyên đơn thanh toán giá trị tài sản cho bị đơn mà không buộc bị đơn tháo dỡ, di dời nhà và các tài sản khác gắn liền với đất để trả lại đất cho nguyên đơn.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Khoản 5 Điều 105 Luật đất đai năm 2003 (Điều 166 Luật Đất đai năm 2013).
Điểm b Mục II Thông tư số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Bộ Tư pháp - Bộ Tài chính- Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản.
Từ khóa án lệ:
“Tranh chấp quyền sử dụng đất”; “Tháo dỡ nhà và các tài sản khác”; “Thanh toán giá trị”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án bà Mạc Thị Đ trình bày: Năm 1966 vợ chồng bà có sang nhượng phần đất 21 công tầm lớn ở A; năm 1969 vợ chồng bà đi ra vùng giải phónggiao đất lại cho mẹ chồng là bà Nguyễn Thị Kim Q canh tác. Năm 1970 cha chồng chết, năm 1973 bà về lấy lại đất canh tác, nhưng do cụ Nguyễn Thị Kim Q không ở chung nên bà chỉ lấy 15 công, còn lại 6 công để lại cho cụ Nguyễn Thị Kim Q mượn canh tác.
Năm 1981 bà đòi lại đất nhưng cụ Nguyễn Thị Kim Q không trả. Năm 1983 cụ Nguyễn Thị Kim Q giao đất cho anh Phạm Văn D (cháu ngoại cụ Nguyễn Thị Kim Q) canh tác, mỗi năm Phạm Văn D trả cho cụ Q 20 giạ lúa nhưng anh Phạm Văn D trả được một thời gian rồi không trả. Năm 1997 cụ Nguyễn Thị Kim Q làm giấy giao đất lại cho con gái là bà Nguyễn Thị D (mẹ ruột anh Phạm Văn D) canh tác để bà Dnuôi cụ Nguyễn Thị Kim Q, nhưng anh Phạm Văn D không đồng ý trả mà còn đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà không biết. Năm 2000 cụ Nguyễn Thị Kim Q qua đời. Bà và gia tộc đã đòi lại đất ngay sau đó, nhưng Ủy ban nhân dân xã và huyện giải quyết mãi không được, sau lại chuyển sang Tòa nên vụ việc kéo dài. Nay bà yêu cầu anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H trả lại 06 công đất để bà sử dụng.
Bà xác định cụ Nguyễn Thị Kim Q không biết chữ, nên không thể viết di ngôn cho đất anh Phạm Văn D vào năm 1993. Tờ di ngôn này có ghi là có mặt bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị D (là con gái cụ Nguyễn Thị Kim Q) nhưng hai người này xác định không ký vào di ngôn của cụ Nguyễn Thị Kim Q do anh Phạm Văn D xuất trình. Vì vậy, bà xác định anh Phạm Văn D làm giả di ngôn để chiếm đất của bà.
Anh Phạm Văn D trình bày: Sau khi ông ngoại mất năm 1980, bà ngoại (cụ Nguyễn Thị Kim Q) ở với vợ chồng anh. Phần đất tranh chấp 06 công là của ngoại anh là cụ Nguyễn Thị Kim Q sang của ông C và D, chứ không phải sang của ông E. Năm 1981 ngoại anh cho thuê đất 20giạ/năm, nhưng thấy anh nghèo khổ nên cụ Nguyễn Thị Kim Q không lấy lúa. Ngày 19-02-1993 âm lịch, cụ Nguyễn Thị Kim Q có lập di chúc để lại phần đất cho anh. Do cụ Nguyễn Thị Kim Q không biết chữ nên nhờ người khác viết, lúc viết anh không biết nhưngkhi bà Nguyễn Thị M lại ký tên anh có chứngkiến. Sau đó cụ Nguyễn Thị Kim Q giao di chúc và giaođất lại cho anh canh tác, quản lý đến nay. Năm 1994 cụ Nguyễn Thị Kim Q đứng tên quyền sử dụng đất, đến năm 1997 chuyển quyền sử dụng đất lại cho anh. Nay anh đã thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vay tiền Ngân hàng; hiện tại trên phần đất có nhà vợ chồng anh và nhà vợ chồng anh Nguyễn Văn S (con trai bà Mạc Thị Đ), đất anh đã đầu tư chuyển sang nuôi tôm hết 15.000.000d. Anh không đồng ý trả đất cho bà Mạc Thị Đ. Chị Trương Thị H cũng thống nhất theo lời khai của anh Phạm Văn D.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà Nguyễn Thị D trình bày: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của vợ chồng bà Mạc Thị Đ (em dâu bà D) mua, sau đó giao cho cụ Nguyễn Thị Kim Q canh tác. Mẹ bà Nguyễn Thị Dcó cho anh Phạm Văn D (con trai bà D) thuê đất mỗi năm 20 giạ lúa, anh Phạm Văn D có trả lúa thời gian ngắn rồi sau không trả và cũng không nuôi cụ Nguyễn Thị Kim Q nên bà Nguyễn Thị D phải nuôi cụ Nguyễn Thị Kim Q. Năm 1977 cụ Nguyễn Thị Kim Q làm giấy giao đất lại cho bà Nguyễn Thị D canh tác nhưng anh Phạm Văn D không giao đất cho bà Nguyễn Thị D. Nay bà Nguyễn Thị Dxác định không ký tên vào di ngôn của cụ Nguyễn Thị Kim Q cho đất anh Phạm Văn D vào năm 1993. Nay cụ Nguyễn Thị Kim Q đã chết, bà Nguyễn Thị D yêu cầu anh Phạm Văn D giao trả đất cho bà Mạc Thị Đ sử dụng.
Bà Nguyễn Thị Mtrình bày: Bà xác định cụ Nguyễn Thị Kim Q không có đất và cũng không có tài sản. Phần đất tranh chấp theo bà biết là của vợ chồng bà Mạc Thị Đ mua. Do cụ Nguyễn Thị Kim Q không ở chung với vợ chồng bà Mạc Thị Đ nên bà có động viên bà Mạc Thị Đ cho cụ Nguyễn Thị Kim Q mượn đất, khi nào cụ Nguyễn Thị Kim Q chết sẽ trả lại. Bà không biết việc cụ Nguyễn Thị Kim Q lập di chúc và cũng không ký tên vào di chúc.
Anh Nguyễn Văn Strình bày: Cha mẹ anh là ông Bằng, bàĐ cho bà nội là cụ Nguyễn Thị Kim Q mượn 06 công tầm lớn diện tích là 7.776m2 (ngang 36m, dài 216m). Phần còn lại của anh 1.944m2, khi đo đạc thực tế anh Phạm Văn D chiếm thêm 529m2. Anh yêu cầu anh Phạm Văn D trả lại 06 công tầm lớn và đất anh Phạm Văn D chiếm thêm của anh là 592m2.
Chị Lê Thị L (vợanh S) trình bày: Chịthống nhất lời trình bày của anh S, không có ý kiến bổ sung.
Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện CNtrình bày: Ngày 26-11-2009 anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H có thế chấp một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phạm Văn D với tổng diện tích 7.780m2 số vào sổ 00146 do UBND huyện CN cấp tại tờ bản đồ số 10, thửa số 349 để vay vốn Ngân hàng 40.000.000đ, lãi tạm tính đến ngày 12-9-2009 là 175.000đ. Nay việc tranh chấp giữa bà Mạc Thị Đ và ông Phạm Văn D Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Ckhông ý kiến, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Cchỉ yêu cầu anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H phải trả đủ khoản vay gốc và lãi đến ngày trả nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện CNtrước khi buộc anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H trả đất cho bà Mạc Thị Đ hoặc trước khi hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì hiện nay nợ còn đang trong hạn theo hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện CN.
Tại bản án dân sự sơ thẩm lần thứ nhất số 33/2006/DSST ngày 09-3-2006 của Tòa án nhân dân huyện CN quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của bà Mạc Thị Đ. Giao cho anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H được quản lý diện tích đất đo thực tế là 8.372m2 tại tờ bản đồ số 10, thửa số 349, đất tọa lạc tại A, xã TH, huyện CN, tỉnh Cà Mau, có vị trí:
- Đông giáp đất bà Nguyễn Thị D dài 207,5m.
- Tây giáp kênh công cộng dài 207,5m.
- Nam giáp đất anh Nguyễn Văn S dài 39m.
- Bắc giáp kênh Cái Bào Vũng dài 41,7m.
Buộc anh Nguyễn Văn Svà chị Lê Thị L tháo dỡ căn nhà giao trả đất cho anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H.
Buộc anh Phạm Văn D có trách nhiệm thanh toán nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện CN theo hợp đồng tín dụng ngày 26-11-2003.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 14-3-2006, bà Mạc Thị Đ và anh Nguyễn Văn Skháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 231/2006/DSPT ngày 19-6-2006 Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau quyết định:
Giữ nguyên hiện trạng đất cho anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H. Giao cho anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H tiếp tục quản lý sử dụng theo đo đạc thực tế 8.372m2 tại tờ bản đồ số 10, thửa số 349, đất tọa lạc tại A, xãTH, huyện CN, tỉnh Cà Mau.
Bảo lưu hợp đồng tín dụng ngày 26-11-2003 của anh Phạm Văn D đối với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện C.
Sau khi xét xử phúc thẩm bà Mạc Thị Đ, anh Nguyễn Văn S khiếu nại. Tại quyết định giám đốc thẩm số 298/2009/DS-GĐT ngày 20-7-2009 Hội đồng giám đốc thẩm Tòa dân sự - Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án dân sự phúc thẩm và hủy bản án dân sự sơ thẩm giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân huyện CN xét xử sơ thẩm lại.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 14/2011/DSST ngày 11-3-2011 của Tòa án nhân dân huyện CN quyết định:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện đòi lại đất của bà Mạc Thị Đ đối với anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H. Giao cho anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H tiếp tục quản lý phần đất có diện tích đo đạc thực tế 8.372m2 tại tờ bản đồ số 10, thửa số 349, đất tọa lại tại A, xã TH, huyện CN, tỉnh Cà Mau.
Buộc anh Nguyễn Văn S và Lê Thị Ltháo dỡ căn nhà giao trả đất cho anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 24-3-2010, bà Mạc Thị Đ và anh Phạm Văn D kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 171/2011/DSPT ngày 24-8-2011 Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau quyết định: Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 14/2011/DSST ngày 11-3-2011 của Tòa án nhân dân huyện CN
Buộc anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H phải tự di dời nhà và tài sản khác gắn liền trên đất giao trả lại cho bà Mạc Thị Đ phần đất với diện tích đo thực tế là 8.372m2 tọa lạc tại A, xã TH, huyện CN, tỉnh Cà Mau thuộc thửa số 349, tờ bản đồ số 10, có vị trí tứ cận.
Phía đông giáp đất Nguyễn Thị Dcó cạnh dài 207,5m.
Phía tây giáp kênh công cộng có cạnh dài 207,5m.
Phía nam giáp đất anh Nguyễn Văn Sơncó cạnh dài 39m.
Phía bắc giáp kênh Bào Vũng có chiều dài 41,7m.
Buộc bà Mạc Thị Đ phải hoàn lại công sức đầu tư, tôn tạo đất cho anh Phạm Văn D số tiền 15.000.000đ.
Buộc anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H phải thanh toán nợ vay cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn – chi nhánh huyện CN số tiền vốn 40.000.000đ và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký.
Sau khi xét xử phúc thẩm, anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H có đơn khiếu nại, không đồng ý với bản án phúc thẩm.
Tại Quyết định số 57/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 17-7-2012, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 171/2011/DSPT ngày 24-8-2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; Đề nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 14/2011/DSST ngày 11-3-2011 của Tòa án nhân dân huyện CN, tỉnh Cà Mau; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện CN, để xét xử sơ thẩm lại qui định của pháp luật, với nhận định: Phía nguyên đơn khởi kiện đòi lại đất cho rằng, cho cụ Nguyễn Thị Kim Q mượn, song không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Trong khi đó cụ Nguyễn Thị Kim Q được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1995, chuyển quyền sử dụng sang anh Phạm Văn Dnăm 1997 và anh Phạm Văn D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, không có việc bà Mạc Thị Đ cho cụ Nguyễn Thị Kim Q mượn đất. Mặt khác, vợ chồng anh Phạm Văn D và chị Trương Thị Hđã quản lý, sử dụng từ năm 1982 đến nay, nên cần giữ nguyên hiện trạng. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của nguyên đơn là đúng. Tuy nhiên, buộc Nguyễn Văn Svà chị Lê Thị L (vợanh S) conbàĐ phải dỡ nhà trả lại đất là không đúng, vì bị đơn không có yêu cầu phản tố. Còn Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Mạc Thị Đ, buộc anh Phạm Văn D và chị Trương Thị Hphải di dời nhà và tài sản để giao trả đất cho bà Mạc Thị Đ là không có căn cứ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Vụ án này đã được Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm thể hiện tại quyết định số 298/2009/DS-GĐT ngày 20-7-2009 hủy bản án dân sự phúc thẩm và hủy bản án dân sự sơ thẩm giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân huyện CN xét xử sơ thẩm lại với nhận định:
[2] “Có căn cứ xác định nguồn gốc diện tích đất tranh chấp đo thực tế 8.372m2 tại ấp A, xã TH, huyện CN, tỉnh Cà Mau là của vợ chồng bà Mạc Thị Đ tạo lập từ năm 1966. Do cụ Nguyễn Thị Kim Q là mẹ chồng bà Mạc Thị Đ không ở cùng bà Mạc Thị Đ nên sau đó bà Mạc Thị Đ giao cho cụ Nguyễn Thị Kim Q sử dụng, từ năm 1966 đến năm 1983 cụ Nguyễn Thị Kim Q giao cho anh D canh tác để nuôi cụ Q nhưng anh D chỉ nuôi cụ Q thời gian ngắn và cũng không trả đất cho cụ Q nên bà Mạc Thị Đ đã tranh chấp với anh Phạm Văn D từ năm 1995.
[3] Anh Phạm Văn D cho rằng đất tranh chấp do anh Phạm Văn D được cụ Nguyễn Thị Kim Q di ngôn cho anh Phạm Văn D được sử dụng đất của cụ, anh Phạm Văn D đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 và anh Phạm Văn D xuất trình “Tờ duy ngôn” của cụ Q viết ngày 19-2-1993 cho anh Phạm Văn D 4 công đất để chứng minh. Tuy nhiên, trong di ngôn này có ghi tên Nguyễn Thị M và Nguyễn Thị D là con gái cụ Nguyễn Thị Kim Q chứng kiến, nhưng bà D và bà M không thừa nhận có ký vào di ngôn nêu trên. Cụ Nguyễn Thị Kim Q đã nhiều tuổi, không biết chữ, phải điểm chỉ, nhân chứng là con gái cụ Nguyễn Thị Kim Q thì không thừa nhận ký vào di ngôn, nên chưa đủ căn cứ xác định anh Phạm Văn D đã được cụ Nguyễn Thị Kim Q cho đất. Lẽ ra, phải làm rõ xem có đúng chữ ký của bà bà D và bà M vào di ngôn của cụ Nguyễn Thị Kim Q hay không? Ngoài ra còn những người bàn cận là F, G, H ký xác nhận và làm chứng vào di ngôn của cụ Nguyễn Thị Kim Q. Vì vậy, cần xác minh những nhân chứng này để xác định việc cụ Nguyễn Thị Kim Q lập di ngôn có đúng ý chí cụ không. Trong hồ sơ có xác nhận của ông Phạm Minh Đ hiện là Bí thư chi bộ ấp A, năm 1995 ông là trưởng Ban nhân dân ấp A, theo đó ông Đ khẳng định năm 1995 bà Mạc Thị Đ đã tranh chấp đất với anh Phạm Văn D, nhưng năm 1997 anh Phạm Văn D vẫn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy cần xác minh việc cấp giấy chứng nhận cho anh Phạm Văn D đối với diện tích đất tranh chấp có đúng thủ tục không. Trên cơ sở đó mới có căn cứ xác định anh Phạm Văn D được cụ Nguyễn Thị Kim Q cho đất hay không để công nhận hay không công nhận cho anh Phạm Văn D quyền sử dụng hợp pháp diện tích đất này”.
[4] Xét thấy, trong quá trình giải quyết lại, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện những yêu cầu mà Tòa án cấp giám đốc thẩm đã nêu trên như trưng cầu giám định và cơ quan chuyên môn đã kết luận không đủ cơ sở truy nguyên người ký vào di ngôn, trong khi đó bà M, bà D mẹanh Phạm Văn D vẫn khẳng định diện tích đất tranh chấp không phải của anh Phạm Văn D mà của bà Mạc Thị Đ. Việc xác định anh Phạm Văn D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất nêu trên năm 1997 cũng không đúng thủ tục theo qui định tại khoản 3 Điều 30 Luật đất đai năm 1993, vì đất đang có tranh chấp. Với nội dung đó và không có tình tiết khác nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn giao cho anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H tiếp tục quản lý diện tích đo đạc thực tế 8.372m2 đất tại tờ bản đồ số 10, thửa số 349, đất tọa lại tại ấp A, xã TH, huyện CN là chưa có căn cứ vững chắc. Đồng thời vợ chồng anh Nguyễn Văn S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho rằng anh Phạm Văn D lấn chiếm của của anh 529m2 đất (trong tổng diện tích đất đang tranh chấp) và trên đó có nhà vợ chồng anh S đang ở nhưng Tòa án cấp sơ thẩm buộc vợ chồng anh S, chị L phải tháo dỡ nhà để trả đất cho anh Phạm Văn D cũng là không đúng.
[5] Tòa án cấp phúc thẩm xác định diện tích đất nêu trên của bà Mạc Thị Đ là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm buộc vợ chồng anh Phạm Văn D phải tháo dỡ nhà và các tài sản khác gắn liền trên đất để lại đất cho bà Mạc Thị Đ cũng là không đúng. Lẽ ra, Tòa án cần xác định rõ giá trị sử dụng còn lại của các tài sản này giao cho bà Mạc Thị Đ sở hữu, buộc bà Mạc Thị Đ thanh toán lại giá trị cho anh Phạm Văn D mới giải quyết triệt để vụ án, đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
Bởi các lẽ trên; Căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
QUYẾT ĐỊNH:
Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 171/2011/DS-PT ngày 24-8- 2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau và hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 14/2011/DS-ST ngày 11-3-2011 của Tòa án nhân dân huyện A2 về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa bà Mạc Thị Đ với bị đơn là anh Phạm Văn D và chị Trương Thị H.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện CN, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[5] Tòa án cấp phúc thẩm xác định diện tích đất nêu trên của bà Mạc Thị Đ là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm buộc vợ chồng anh Phạm Văn D phải tháo dỡ nhà và các tài sản khác găn liền trên đất để lại đất cho bà Mạc Thị Đ cũng là không đúng. Lẽ ra, Tòa án cần xác định rõ giá trị sử dụng còn lại của các tài sản này giao cho bà Mạc Thị Đ sở hữu, buộc bà Mạc Thị Đ thanh toán lại giá trị cho anh Phạm Văn D mới giải quyết triệt để vụ án, đảm bảo quyền lợi của các đương sự”.
(nguồn: anle.toaan.gov.vn)
Tin tức nổi bật
Cập nhật 24h
Hữu ích