TRA CỨU BẢN ÁN TRỰC TUYẾN & HỢP ĐỒNG MẪU

Thông tin về Vị trí nhà, đất có tranh chấp tại https://caselaw.vn/tra-cuu-tranh-chap-bat-dong-san được cung cấp bởi Caselaw Việt Nam được thu thập từ nguồn nội dung của các bản án mà Caselaw Việt nam cho rằng là đáng tin cậy và dựa trên cơ sở “thực tế và sẵn có”.

Các vị trí nhà, đất có tranh chấp có thể là: 1) Vị trí nhà, đất thuộc diện thi hành án; hoặc 2) Vị trí nhà, đất bị thế chấp và có khả năng bị ngân hàng phát mại; hoặc 3) Lược sử vị trí nhà, đất đã bị tranh chấp và có thể kéo dài tới hiện tại.

Mục đích duy nhất của các thông tin này là nhằm hạn chế rủi ro pháp lý trong các giao dịch bất động sản liên quan đến các vị trí nhà, đất được chỉ ra ở dưới đây. Mặc dù đã cố gắng hết sức, Caselaw Việt Nam không đảm bảo rằng các thông tin được cung cấp là chính xác hoàn toàn, trọn vẹn và có thể giúp Quý khách hàng loại bỏ các rủi ro pháp lý tuyệt đối.

Bất kỳ hình thức sử dụng thông tin nào cần được cân nhắc kỹ lưỡng, có sự tư vấn của luật sư và tuân thủ quy định pháp luật.

Chân thành cảm ơn!



Vị trí mới cập nhật

Nội dung tranh chấp tại: Căn nhà có diện tích xây dựng là 740,3m2, diện tích khuôn viên 802m2 thuộc thửa 636, tờ bản đồ số 3 tại số 3/3 Trường Chinh, tổ 49, khu phố 4, phường Tân Thới Nhất, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh


Nguồn thông tin: Bản án/Quyết định số: 31/2013/DSGĐT ngày 24/04/2013 của HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Nội dung tóm lược:

Nguyên đơn: Cụ Võ Thị Gắt sinh năm 1936; hộ khẩu thường trú tại nhà số 3/3 đường Trường Chinh, tổ 49, khu phố 4, phường Tân Thới Nhất, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú tại nhà số A13/1 đường Mai Bá Hương, ấp 1, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn:

1. Ông Trần Đức Hưng sinh năm 1954; trú tại nhà số 94 đường Lê Thị Hồng Gấm, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh; ủy quyền cho ông Nguyễn Tiến Đạt sinh năm 1972; trú tại nhà số 702 Chung cư Phan Văn Trị, phường 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh, đại diện (văn bản ủy quyền ngày 05/6/2010).

2. Bà Phạm Thị Tuyết Mai (là con của cụ Gắt) sinh năm 1964; trú tại số nhà số 3/3 đường Trường Chinh, tổ 49, khu phố 4, phường Tân Thới Nhất, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm Tấn Sanh sinh năm 1961;

2. Bà Phạm Thị Tuyết Hạnh sinh năm 1966;

3. Bà Phạm Thị Kim Phụng sinh năm 1975;

Ông Sanh, bà Hạnh, bà Phụng đều là con của cụ Gắt và đều trú tại Hoa Kỳ (địa chỉ 3210 Gardenfield LN Tee # 832-620-1962, USA).

4. Bà Phạm Thị Kim Mỹ sinh năm 1968 (là con của cụ Gắt); trú tại A13/1 đường Mai Bá Hương, ấp 1, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

5. Công ty TNHH dệt may Mai Bình Trân, trụ sở tại số 3/3 đường Trường Chinh, tổ 49, khu phố 4, phường Tân Thới Nhất, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh; do bà Phạm Thị Tuyết Mai - Giám đốc Công ty, đại diện.

6. Ngân hàng Thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VP Bank), trụ sở tại số 8 đường Lê Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh; trụ sở tại số 81-83-85 đường Hàm Nghi, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh; do ông Đỗ Thành Trung-Trưởng phòng Phòng Thu hồi nợ VP Bank, đại diện (Văn bản ủy quyền số 359/UQ-GĐQT ngày 03/11/2009).

NHẬN THẤY:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2008, bổ sung ngày 24/4/2008 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là cụ Võ Thị Gắt trình bày:

Năm 1970, vợ chồng cụ (chồng của cụ là cụ Phạm Văn Tấu) có mua của cụ Ngô Văn Nghi và cụ Võ Văn Chương một nhà máy xay lúa hiệu Phước Lợi ở xã Tân Thới Nhất, quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định (cũ) với giá 180.000 đồng, còn đất thì thuê của cụ Nguyễn Thị Tình. Năm 1982, vợ chồng cụ kê khai đăng ký sử dụng đất với số thửa 636, tờ bản đồ số 3, diện tích 840m2 (do cụ Tấu đứng tên). Sau khi cụ Tình chết, ngày 04/8/1986, vợ chồng cụ thỏa thuận với ông Nguyễn Văn Trở (là con của cụ Tình) mua phần đất thuộc lô số 638, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.020m2 với giá là 40.000đ và cụ đã giao đủ tiền cho ông Trở; việc mua bán có lập “Biên bản nhận tiền giải quyết hoa màu và giao đất thổ cư” tại UBND xã Tân Thới Nhất, chữ ký mang tên của cụ trong biên bản này là do cụ nhờ con gái của cụ ký hộ.

Quá trình ở trên đất này vợ chồng cụ xây dựng nhà có diện tích 42m2, sau khi cụ Tấu chết (năm 1999) thì vợ chồng ông Trần Đức Hưng, bà Phạm Thị Tuyết Mai mới về ở với cụ. Năm 2001, Nhà nước giải tỏa làm đường có đập bỏ một phần nhà của cụ, sau đó vợ chồng ông Hưng, bà Mai xây dựng lại nhà mới như hiện nay. Vì cụ ở chung với vợ chồng ông Hưng, bà Mai, lại không rành chữ nên mọi việc liên quan đến căn nhà đều do vợ chồng ông Hưng, bà Mai tự làm mà không hỏi ý kiến cụ.

Năm 2007, cụ phát hiện vợ chồng ông Hưng, bà Mai có ý định bán nhà, đất của cụ nên cụ yêu cầu Tòa án xác định nhà số 3/3 đường Trường Chinh, tổ 49, khu phố 4, phường Tân Thới Nhất, quận 12 (trước đây là nhà, đất số 3/3 ấp Thuận Kiều, xã Tân Thới Nhất, huyện Hóc Môn), thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là nhà số 3/3) là tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng cụ, đồng thời thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Hưng, bà Mai. Cụ sẽ hoàn trả giá trị phần xây dựng thêm cho vợ chồng ông Hưng, bà Mai theo biên bản định giá. Khoản tiền đền bù khi Nhà nước giải tỏa làm đường năm 2003 (hơn 2 tỷ đồng) mà vợ chồng bà Mai đã nhận cụ không yêu cầu ông Hưng, bà Mai phải hoàn trả.

Bị đơn trình bày:

- Ông Trần Đức Hưng trình bày: năm 1986, ông và bà Mai kết hôn, vợ chồng ông về ở chung với cha mẹ vợ tại nhà số 3/3; đến năm 1987 thì vợ chồng ông ra ở riêng, năm 2001 lại về ở với mẹ vợ. Nhà số 3/3 trước đây chỉ có 42m2. Ngày 15/8/1989, vợ chồng ông mua toàn bộ diện tích đất 840m2, thuộc thửa 636, tờ bản đồ số 3 của vợ chồng ông Nguyễn Văn Trở (là con của cụ Tình), bà Nguyễn Thị Nem (trên đất có ngôi nhà 42m2 của cha mẹ vợ của ông), hợp đồng mua bán không có chứng thực của chính quyền địa phương. Ngày 27/9/1989, cha vợ của ông là cụ Tấu đã lập giấy ủy quyền sở hữu nhà số 3/3 cho vợ chồng ông.

Sau khi giải tỏa làm đường thì vợ chồng ông xây dựng nhà mới như hiện nay. Năm 2000, ông và bà Mai thuận tình ly hôn nhưng sau đó lại sống chung nhưng chưa đăng ký kết hôn lại. Ngày 14/01/2002, ông và bà Mai đã được UBND quận 12 cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. Hiện nay ông và bà Mai cho Công ty TNHH dệt may Mai Bình Trân mượn nhà số 3/3 để làm trụ sở.

Tháng 7/2009, bà Mai và ông thế chấp toàn bộ nhà, đất tại số 3/3 để bảo lãnh cho công ty TNHH dệt may Mai Bình Trân vay 7 tỷ đồng tại ngân hàng VP Bank - Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh.

Ông không đồng ý yêu cầu của cụ Gắt vì đất vợ chồng ông đã mua của ông Trở, bà Nem và vợ chồng ông đã được cấp giấy chứng nhận hợp pháp. Đối với số tiền vay ngân hàng thì ông và bà Mai sẽ có trách nhiệm trả cho ngân hàng.

- Bà Phạm Thị Tuyết Mai trình bày: Bà là con của cụ Gắt và cụ Tấu. Cụ Tấu đã mất năm 1999 không để lại di chúc. Bà xác nhận nguồn gốc nhà đất đúng như lời cụ Gắt trình bày. Trong quá trình giải quyết vụ án, lúc đầu bà Mai xác định, cha mẹ bà đã cho bà nhà số 3/3, diện tích đất là do vợ chồng bà mua của ông Nguyễn Văn Trở (là con của cụ Nguyễn Thị Tình), nhà 3/3 thuộc quyền sở hữu sử dụng hợp pháp của vợ chồng bà; nhưng sau đó, bà Mai lại xác định việc bà đứng tên chủ quyền nhà số 3/3 chỉ là đứng tên dùm cho cha mẹ của bà; giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất có tên ông Hưng vì mọi giấy tờ đều do tự ông Hưng đi làm, nay bà đồng ý trả nhà, đất lại cho cụ Gắt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

- Bà Phạm Thị Kim Mỹ: đồng ý với trình bày và yêu cầu của cụ Gắt.

- Công ty TNHH Mai Bình Trân - do bà Phạm Thị Tuyết Mai đại diện trình bày: Công ty chỉ mượn nhà đất số 3/3 để làm trụ sở kinh doanh, đây không phải là tài sản của công ty. Đối với khoản nợ ngân hàng thì công ty sẽ có trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng, nếu công ty không trả được thì ông Hưng và bà Mai sẽ có trách nhiệm trả nợ.

- Ngân hàng Thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VP Bank), do ông Đỗ Thành Trung (là người đại diện theo ủy quyền), trình bày: Ngày 13/7/2009, Ngân hàng cho Công ty TNHH dệt may Mai Bình Trân vay số tiền 7 tỷ đồng, thời hạn 12 tháng, lãi suất 10,5%/ năm. Khoản vay trên được ông Hưng, bà Mai đứng ra bảo đảm, tài sản thế chấp là toàn bộ nhà đất số 3/3 do ông Hưng và bà Mai đứng tên trên giấy chứng nhận. Ngoài ra, ngày 30/9/2009 bà Mai tự nguyện thế chấp bổ sung quyền sử dụng đất tại thửa 537, 538, 820, 821, 822, tờ bản đồ số 8, xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo một phần cho khoản vay trên. Việc Ngân hàng cho Công ty Mai Bình Trân vay là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật. Nay cụ Gắt với ông Hưng, bà Mai tranh chấp nhà đất số 3/3 thi Ngân hàng yêu cầu Công ty Mai Bình Trân, ông Hưng, bà Mai, cụ Gắt phải liên đới trả nợ ngay một lần toàn bộ số nợ gốc và lãi cho ngân hàng, nếu không trả được thì đề nghị cho Ngân hàng được phát mãi nhà số 3/3 để thu hồi nợ.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Tấn Sanh, bà Phạm Thị Tuyết Hạnh, bà Phạm Thị Kim Phụng, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã 02 lần gửi công văn đề nghị Bộ Tư Pháp ủy thác tư pháp cho Tòa án có thẩm quyền của Hoa Kỳ để ghi ý kiến của các ông, bà nêu trên nhưng đến ngày xét xử sơ thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh chưa nhận được kết quả ủy thác.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 3334/2009/DSST ngày 13/11/2009, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của cụ Võ Thị Gắt: xác định căn nhà 3/3 Trường Chinh, tổ 49, khu phố 4, phường Tân Thới Nhất, quận 12, thành phổ Hồ Chí Minh có diện tích xây dựng là 740,3m2, diện tích khuôn viên 802m2 là tài sản của cụ Phạm Văn Tấu (chết năm 1999) và cụ Võ Thị Gắt.

- Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Võ Thị Gắt không yêu cầu ông Hưng và bà Mai phải hoàn trả số tiền được đền bù khỉ giải tỏa đường Trường Chinh là 2.241.781.752 đồng.

Cụ Võ Thị Gắt có trách nhiệm thanh toán cho ông Hưng, bà Mai số tiền chi phí xây dựng là 7.015.349.250 đồng. Thực hiện ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi thanh toán đủ số tiền trên cho ông Hưng, bà Mai thì cụ Gắt và các đồng thừa kế của cụ Tấu được liên hệ với các cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu nhà 3/3 theo quy định chung.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận 12, thành phố Hồ Chí Minh thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 17, ngày 14/1/2002 cấp cho ông Hưng và bà Mai.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VP Bank):

Buộc Công ty TNHH dệt may Mai Bình Trân và ông bà Trần Đức Hưng, Phạm Thị Tuyết Mai có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam - Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh số tiền vốn 7.000.000.000 đồng + lãi tháng 11/2009 là 57.166.667 đồng khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Kể từ thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH dệt may Mai Bình Trân và ông bà Trần Đức Hưng, Phạm Thị Tuyết Mai còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định.

Trường hợp công ty Mai Bình Trân, ông Hưng, bà Mai không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng quy định thì ngân hàng VP Bank có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất tọa lạc tại thửa 537, 538, 820, 821, 822 tờ bản đồ số 8, xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh theo hợp đồng thế chấp tài sản số 26894.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí định giá tài sản, trách nhiệm do chậm thi hành án và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Sanh đã nhận bản án sơ thẩm, có ý kiến là đồng ý với bản án sơ thẩm, không kháng cáo và cam kết có trách nhiệm chuyển bản án sơ thẩm cho bà Hạnh, bà Phụng (Văn bản ghi ý kiến của ông Sanh có Công chứng của bang Texas, Hoa Kỳ và có thị thực của Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại San Fransico, Hoa Kỳ).

Ngày 13/11/2009, ông Trần Đức Hưng kháng cáo với nội dung không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.

Ngày 16/11/2009, Ngân hàng VP Bank kháng cáo yêu cầu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 123/2010/DSPT ngày 25/6/2010, Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định sửa bản án sơ thẩm như sau:

1. Không chấp nhận đơn khởi kiện của cụ Võ Thị Gắt về việc yêu cầu xác định căn nhà có diện tích xây dựng là 740,3m2 và phần đất gắn liền với căn nhà có diện tích 802m2, tọa lạc tại số 3/3 đường Trường Chinh, tổ 49, khu phố 4, phường Tân Thới Nhất, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của cụ Võ Thị Gắt và cụ Phạm Văn Tấu.

2. Công nhận ông Trần Đức Hưng và bà Phạm Thị Tuyết Mai là chủ sở hữu căn nhà có diện tích xây dựng là 669m2 và chủ sử dụng phần đất gắn liền với căn nhà có diện tích 682,1m2 , tọa lạc tại số 3/3 (theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất số 17);

3. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam: buộc công ty TNHH Mai Bình Trân phải trả cho ngân hàng khoản tiền cả vốn lẫn lãi tính đến ngày 13/11/2009 là 7.057.166.667 đồng và còn phải tiếp tục chịu tiền lãi theo lãi suất nợ quá hạn kể từ ngày 13/11/2009 cho đến khi thanh toán xong;

Trong trường hợp công ty Mai Bình Trân không thanh toán được khoản nợ kể trên thì Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là căn nhà và quyền sử dụng đất gắn liền với nhà tọa lạc tại số 3/3 đường Trường Chinh, tổ 49, khu phố 4, phường Tân Thới Nhất, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Ngày 24/12/2010, cụ Gắt có đơn đề nghị xem xét bản án dân sự phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định số 36/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 31/3/2011, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nêu trên, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và bản án dân sự sơ thẩm số 3334/2009/DSST ngày 13/11/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.