- THÔNG TƯ LIÊN TỊCH CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO - BỘ TƯ PHÁP - BỘ CÔNG AN SỐ 01/2000/TTLT-TADNTC-VKSNDTC-BTP-BCA NGÀY 12 THÁNG 6 NĂM 2000 HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỤC 3 NGHỊ QUYẾT SỐ 32/1999/QH10 NGÀY 21 THÁNG 12 NĂM 1999 CỦA QUỐC HỘI VÀ NGHỊ QUYẾT SỐ 229/2000/NQ-UBTVQH10 NGÀY 28 THÁNG 1 NĂM 2000 CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
- 1. Trong mọi trường hợp khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm cũng không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm một trong những tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bỏ hình phạt tử hình đối với tội đó; cụ thể là các tội sau đây:
- 2. Khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang có con (con đẻ, con nuôi) dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử về tội phạm mà Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫn quy định hình phạt tử hình.
- 3. Điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 quy định: "Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự trước đây quy định là tội phạm, nhưng Bộ luật Hình sự này không quy định là tội phạm...." Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997) quy định là tội phạm, nhưng Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm bao gồm:
- 4. Điểm d Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội quy định: "không xử lý về hình sự đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt đến bảy năn tù..."; do đó, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một vụ án hình sự mà có bị can, bị cáo là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án cần kiểm tra xem về tội phạm mà người chưa thành niên đó bị khởi tố, truy tố hoặc xét xử, thì Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức cao nhất của khung hình phạt là bao nhiêu năm tù; nếu Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức cao nhất của khung hình phạt đó là 7 năm tù trở xuống, thì đình chỉ điều tra vụ án hoặc đình chỉ vụ án.
- 5. Việc đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án đối với các trường hợp nêu tại Mục 3 và Mục 4 Thông tư này được thực hiện như sau:
- 6. Việc miễn chấp hành hình phạt quy định tại mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được tiến hành theo các bước như sau:
- 7. Trong trường hợp một người bị kết án về nhiều tội (trong cùng một bản án hoặc trong nhiều bản án), trong đó có tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm nữa, thì việc miễn chấp hành hình phạt đối với tội này được thực hiện như sau:
- 8. Khi đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án cũng như miễn chấp hành hình phạt, thì cơ quan ra quyết định đình chỉ hay quyết định miễn chấp hành hình phạt cần giải thích cho người được đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án hoặc được miễn chấp hành hình phạt biết là việc đình chỉ hoặc miễn chấp hành hình phạt này là do chính sách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước ta, chứ không phải về oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; do đó, họ không có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 624 Bộ luật Dân sự.
- 9. Trong trường hợp các cơ quan, tổ chức, cũng như bản thân người bị kết án đề nghị việc miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thì các cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Toà án, Tư pháp cần hướng dẫn họ làm đơn đề nghị và cùng bản sao bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật gửi cho cơ quan được giao thẩm quyền đề nghị theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để tiến hành việc miễn chấp hành hình phạt theo hướng dẫn tại Mục 6 Thông tư này.
- 10. Đối với các đối tượng được nêu tại các mục 3 và 4 Thông tư này cũng như các đối tượng thuộc diện được miễn chấp hành phạt theo quy định tại mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội mà đang bị truy nã, thì cơ quan ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án hoặc miễn chấp hành hình phạt đồng thời phải thông báo cho cơ quan đã ra quyết định (hoặc lệnh) truy nã biết để cơ quan này ra ngay quyết định (hoặc lệnh) đình nã, nếu họ không bị truy nã về hành vi phạm tội khác.
- 11. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 27 tháng 6 năm 2000 và thay thế các văn bản trước đây của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn về việc thi hành Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội.
Thông tư liên bộ số 01/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA ngày 12/06/2000 giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Công an Hướng dẫn thi hành Mục 3 Nghị quyết 32/1999/QH10 và Nghị quyết 229/2000/NQ-UBTVQH10 về việc thi hành Bộ luật Hình sự
- Số hiệu văn bản: 01/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA
- Loại văn bản: Thông tư liên tịch
- Cơ quan ban hành: Bộ Công An, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
- Ngày ban hành: 12-06-2000
- Ngày có hiệu lực: 27-06-2000
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 08-10-2021
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 7773 ngày (21 năm 3 tháng 18 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 08-10-2021
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh