CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM

Thông tin về Vị trí nhà, đất có tranh chấp tại https://caselaw.vn/tra-cuu-tranh-chap-bat-dong-san được cung cấp bởi Caselaw Việt Nam được thu thập từ nguồn nội dung của các bản án mà Caselaw Việt nam cho rằng là đáng tin cậy và dựa trên cơ sở “thực tế và sẵn có”.

Các vị trí nhà, đất có tranh chấp có thể là: 1) Vị trí nhà, đất thuộc diện thi hành án; hoặc 2) Vị trí nhà, đất bị thế chấp và có khả năng bị ngân hàng phát mại; hoặc 3) Lược sử vị trí nhà, đất đã bị tranh chấp và có thể kéo dài tới hiện tại.

Mục đích duy nhất của các thông tin này là nhằm hạn chế rủi ro pháp lý trong các giao dịch bất động sản liên quan đến các vị trí nhà, đất được chỉ ra ở dưới đây. Mặc dù đã cố gắng hết sức, Caselaw Việt Nam không đảm bảo rằng các thông tin được cung cấp là chính xác hoàn toàn, trọn vẹn và có thể giúp Quý khách hàng loại bỏ các rủi ro pháp lý tuyệt đối.

Bất kỳ hình thức sử dụng thông tin nào cần được cân nhắc kỹ lưỡng, có sự tư vấn của luật sư và tuân thủ quy định pháp luật.

Chân thành cảm ơn!



Vị trí mới cập nhật

Nội dung tranh chấp tại: 192m2 đất ở phố Nguôi, Hội Hợp, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc


Nguồn thông tin: Bản án/Quyết định số52/2015/DS-GĐTngày 13/03/2015

 của Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao

Nội dung tóm lược:

Nguyên đơn:

1,  Ông Bùi Đức Thiện, sinh năm 1947.

2,  Phùng Thị Thức, sinh năm 1948.

Ông Thiện và bà Thức đều ủy quyền cho anh Bùi Quyết Chiến sinh năm 1972 đại diện (theo Văn bản ủy quyền ngày 03/5/2010).

Đều trú tại phố Lẻ 2, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Bị đơn:Phùng Thị Xuân, sinh năm 1946; trú tại khu phố Nguôi, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1,  Ông Trần Quang Nhân, sinh năm 1948;

2,  Anh Trần Văn Hòa, sinh năm 1966;

Đều trú tại số nhà 243, phố Cả, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Theo Kháng nghị số 453/2014/KN -DS ngày 13/11/2014 của Chánhán Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 46/2012/DSPT ngày 23/8/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

NHẬN THẤY:

Theo Đơn khởi kiện ngày 03/5/2010, và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - ông Bùi Đức Thiện và bà Phùng Thị Thức, người đại diện theo ủy quyền của ông Thiện, bà Thức là anh Bùi Quyết Chiến trình bày: Năm 1995 bà Phùng Thị Xuân chuyển nhượng cho bố mẹ anh là ông Thiện, bà Thức 192m2 đất ở phố Nguôi, Hội Hợp, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc với giá thỏa thuận là 7.000.000đ. Hai bên ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/6/1995. Hợp đồng được ủy ban nhân dân xã Hợp Thịnh và Phòng công chứng huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) xác nhận, ủy ban nhân dân xã Hợp Thịnh đã trích lục bản đồ đất bà Xuân chuyển nhượng cho gia đình anh, bố anh đã thanh toán đủ tiền cho bà Xuân. Bà Xuân đi kê khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất tại Chi cục thuế huyện Tam Đảo. Sau đó bà Xuân đã xây tường ngăn cách đất giữa nhà bà với đất bà chuyển nhượng cho gia đình anh. Năm 1996, gia đình anh xây tường rào phía đường đi và trồng chuối thu hoạch từ đó đến nay. Trên điện tích đất bà Xuân chuyển nhượng cho gia đình anh có một giếng nước; 6,49m2 nhà cấp 4 của bà Xuân và một số cây mít. Hai bên có thỏa thuận miệng khi nào gia đình anh có nhu cầu sử đụng đất thì bà Xuân sẽ tháo dỡ 6,49m2 nhà cấp trả lại đất cho gia đình anh sử dụng.

Năm 2007, gia đình anh biết bà Xuân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có cả diện tích đất đã chuyển nhượng cho gia đình anh, nên bố anh đã đến gặp bà Xuân đề nghị tháo dỡ phần diện tích nhà cấp 4 để làm thủ tục tách đất thì bà Xuân không đồng ý và đòi thêm tiền. Nay bố mẹ anh đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên buộc bà Phùng Thị Xuân phải thực hiện Hợp đồng ngày 27/6/1995 và phải tháo dỡ 6,49m2 nhà cấp 4 và giao diện tích đất như đã chuyển nhượng. Trước đây trong hợp đồng không ghi rõ đất ở hay đất vườn, nhưng thực tế gia đình bà Xuân được cấp giấy chứng nhận diện tích 416m2 đất trong đó có 200m2 đất thổ cư và 216m2 đất vườn và tại Biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 30/3/2012 diện tích đất chuyển nhượng theo mốc giới tường đã xây là 188,64m2 nên yêu cầu bà Xuân tháo dỡ phần diện tích nhà cấp 4 là 6,49m2 và trả lại cho gia đình anh 188,64m2 (trong đó 100m2 đất thổ cư và 88.64m2 đất vườn). Tại phiên tòa sơ thẩm anh Chiến tự nguyện hỗ trợ cho bà Xuân tiền tháo dỡ 6,49m2nhà cấp 4 là 5.000.000đ nếu bà Xuân tháo dỡ phần diện tích nhà cấp bốn trong vòng một tháng sau khi Tòa xử.

Bị đơn bà Phùng Thị Xuân trình bày:

Bà công nhận năm 1995 bà có chuyển nhượng cho ông Thiện và bà Thức 192m2 đất nằm trong tổng diện tích đất 416m2 của bà. Trên diện tích đất chuyển nhượng có một nửa gian nhà cấp 4; 01 giếng nước và một số cây mít. Hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 7.000.000đ ông Thiện thanh toán trước cho bà 2.000.000đ số tiền còn lại khi nào ông Thiện làm xong thủ tục sang tên thì thanh toán nốt và bà sẽ tháo dỡ phần nhà cấp 4, giao đất cho ông Thiện. Sau khi ông Thiện đưa cho bà 2.000.000đ, bà đã nộp thuế và làm Hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông Thiện vào ngày 27/6/1995. Hai bên đã ra Uỷ ban nhân dân xã Hợp Thịnh và Phòng công chứng huyện Tam Đảo để xác nhận. Tháng 02/1996, gia đình ông Thiện đã xây tương rào khoảng 8m và trồng chuối. Năm 1999 ông Thiện nói với bà không có ai ở nên trả lại đất cho bà và bà đã trả lại cho ông Thiện số tiền 2.000.000đ (không viết giấy tờ gì và không có ai chứng kiến), bà bảo ông Thiện hủy hợp đồng chuyển nhượng đất. Ngày 11/8/1999, bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích 416m2 trong đó có 200m2 đất ở và 216m2 đất vườn thuộc tờ bản đồ 41, thửa số 108 mang tên Phùng Thị Xuân. Nay bà không đồng ý tháo dỡ nhà, trả lại đất cho ông Thiện, bà Thức vì bà đã trả lại 2.000.000đ cho ông Thiện và đất hiện nay đứng tên bà, bà đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên giám định tài liệu có trong hồ sơ chuyển nhượng đất gia đình, ông Thiện nộp tại Tòa án tỉnh. Bà khẳng định chữ ký “Xuân” trong bộ hồ sơ đó không phải chữ ký do bà ký.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Quang Nhân trình bày:

Ông và bà Phùng Thị Xuân chung sống với nhau từ năm 1958 không đăng ký kết hôn, năm 1966 sinh được một con chung là anh Trần Văn Hòa. Từ năm 1967 đến nay ông và bà Xuân không còn tình cảm gì với nhau và sống ly thân từ đó cho đến nay. Theo ông Nhân thì diện tích đất bà Xuân đang quản lý sử dụng là của ông và bà Xuân được cấp năm 1965. Năm 1995 bà Xuân đã chuyển nhượng một phần diện tích đất trên cho gia đình ông Thiện, sau khi biết sự việc trên ông đã có đơn khiếu nại gửi Uỷ ban nhân dân xã Hợp Thịnh, Tam Đảo, Vĩnh Phú (cũ) nay là phường Hội Hợp, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc và đã được chính quyền địa phương hòa giải thành. Từ đó đến nay ông Nhân không có khiếu nại tiếp theo gửi đến các cấp có thẩm quyền và cũng không có ý kiến gì đối với bà Xuân về diện tích đất bà đang quản lý sử dụng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Xuân. Nay ông Thiện và bà Xuân có tranh chấp về diện tích đất mà hai bên đã chuyển nhượng, quan điểm của ông không đồng ý cho bà Xuân chuyển nhượng đất cho gia đình ông Thiện, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn Hòa trình bày:

Năm 1990 anh cùng bà Xuân đóng gạch xây nhà ở cấp bốn mà hiện nay bà Xuân đang quản lý, sử dụng, bà Xuân chuyển nhượng đất cho ông Thiện anh không biết. Anh là một thành viên trong gia đình nhưng bà Xuân tự ý chuyển nhượng đất cho ông Thiện, bà Thức. Anh không đồng ý tháo dỡ nhà trả lại đất cho ông Thiện và bà Thức, anh đề nghị Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa mẹ anh và ông Thiện, bà Thức.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2010/DSST ngày 19/10/2010, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên quyết định:

Buộc bà Phùng Thị Xuân và anh Trần Văn Hòa phải tháo dỡ 6,49m2 nhà cấp bốn trả lại cho ông Bùi Đức Thiện và bà Phùng Thị Thức diện tích đất 189,5m2 (trong đó có 100m2 đất thổ cư và 89,5m2 đất vườn) theo Họp đồng chuyển nhượng đất ngày 27/6/1995 thuộc thửa số 134, tờ bản đồ 20 tại phố Nguôi, Hội Hợp, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. Có ranh giới như sau: phía Đông giáp phần đất nhà bà Phùng Thị Xuân dài 19,85m; phía Tây giáp hộ ông Thông dài 19,90m; phía Nam giáp hộ ông Cường dài 9,5m; phía Bắc giáp đường ngõ dài 9,70m (có sơ đồ kèm theo).

Ngày 28/12/2010, bà Xuân khiếu nại với nội dung: Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xử không đúng quy định của pháp luật, chữ ký trong hợp đồng mua bán đất và trong toàn bộ hồ sơ không phải là chữ ký cùa bà. Tại Kháng nghị số 05/2011/KNĐS ngày 20/7/2011, Chánh án TAND tỉnh Vĩnh Phúc kháng nghị đối với Bản án dân sự sơ thẩm nêu trên. Đề nghị ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án sơ thẩm. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm lại. Tại Quyết định giám đốc thẩm, số 10/2011/DS-GĐT ngày 27/9/2011, ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc quyết định: Hủy Bản án sơ thẩm số 12/2010/DSST ngày 19/10/2010, chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên giải quyết lại. Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã thu thập thêm chứng cứ và cho giám định chữ ký của bà Xuân trong hồ sơ chuyển nhượng đất năm 1995 giữa ông Thiện và bà Xuân.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2012/DSST ngày 28/5/2012, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh. Yên quyết định:

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Bùi Đức Thiện, bà Phùng Thị Thức và bà Phùng Thị Xuân lập ngày 26/7/1995 có hiệu lực. Buộc bà Phùng Thị Xuân và anh Trần Văn Hòa phải tháo dỡ 6,49m2 nhà cấp bốn trả lại cho ông Bùi Đức Thiện và bà Phùng Thị Thức 188,64m2 đất (trong đó có 100m2 đất thổ cư và 88,64m2 đất vườn) tại thửa số 108, tờ bản đồ 41 ở phố Nguôi, Hội Hợp, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. Có ranh giới như sau:

-  Phía Đông giáp phần đất của bà Phùng Thị Xuân dài: 19,40m.

-  Phía Tây giáp hộ ông Thông dài: 19,90m,

-  Phía Nam giáp hộ ông Cường dài: 9,50m.

-  Phía Bắc giáp đường ngõ dài: 9,70m.

(Có sơ đồ hiện trạng kèm theo),

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 11/6/2012, bà Phùng Thị Xuân kháng cáo Bản án sơ thẩm với nội dung: không nhất trí trả đất cho ông Thiện vì không có hợp đồng gốc và ông Thiện chưa trả hết tiền cho bà.

Ngày 11/6/2012, anh Trần Văn Hòa kháng cáo Bản án sơ thẩm với nội dung: không nhất trí dỡ nhà để trả lại đất cho ông Thiện.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 46/2012/ĐSPT ngày 23/8/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc quyết định:

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2012/DSST ngày 28/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi có Bản án phúc thẩm nêu trên, bà Phùng Thị Xuân có đơn đề nghị xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Kháng nghị số 453/2014/KN-DS ngày 13/11/2014 đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 46/2012/DSPT ngày 23/8/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2012/DSST ngày 28/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm ngày 13/3/2015, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng bà Xuân khai năm 1995, bà có chuyển nhượng cho ông Thiện 192m2 đất với giá 7 triệu đồng, ông Thiện đã trả cho bà 2 triệu đồng, còn nợ lại 5 triệu đồng. Năm 1999, ông Thiện trả lại đất cho bà và bà đã trả lại 2 triệu đồng cho ông Thiện. Cũng năm này, bà được Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có diện tích đất tranh chấp trên, ông Thiện cho rằng ông đã thanh toán đủ số tiền chuyển nhượng đất cho bà Xuân. Như vậy, các đương sự có lời khai mâu thuẫn về khoản tiền thanh toán. Quá trình giải quyết vụ án, bà Xuân còn thừa nhận sau khi chuyển nhượng đất, bà là người đi làm thủ tục chuyển nhượng và nộp thuế đối với phần đất đã chuyển nhượng. Do đó các căn cứ để xác định bà Xuân chưa nhận đủ số tiền 7 triệu đồng, cũng như căn cứ xác định ông Thiện đã thanh toán xong đều chưa bảo đảm vững chắc. Vì vậy, cần xác minh làm rõ và yêu cầu các bên đương sự xuất trình thêm tài liệu để chứng minh. Trường hợp không làm rõ thêm được thì căn cứ Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để công nhận phần giao dịch có hiệu lực đối vói khoản tiền 2 triệu đồng bà Xuân đã nhận (quy đổi ra đất tại thời điểm giao dịch). Phần diện tích đất tương đương số tiền 5 triệu đồng chưa giao thì xem xét giải quyết vô hiệu và xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu đối với phần diện tích này. Từ đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với một phần kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm xử hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2012/DSST ngày 28/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận