Mới cập nhật
05/08/2025

[CASE STUDY] Khi thầu chính thắng kiện chủ đầu tư 123 tỷ - 2 bài học đắt giá cho nhà thầu từ vụ kiện kéo dài 3 năm - Phần 2/2: Chiến lược tranh tụng và bài học rút ra

Tác giả: Trần Hữu Thung

Case study: Khi thầu chính thắng kiện chủ đầu tư 123 tỷ – Phần 2

IV. Chiến lược tranh tụng

Trong bối cảnh hệ thống hồ sơ không đầy đủ, thiếu vắng nhiều tài liệu trọng yếu, việc xây dựng một chiến lược tranh tụng bài bản và chủ động trở thành yếu tố then chốt quyết định thành bại của vụ án. Thay vì chỉ phòng thủ trước các cáo buộc của đối phương, chúng tôi xác định phải chủ động kiểm soát phạm vi tranh chấp, tận dụng tối đa các quyền thủ tục và tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho nhà thầu. Mọi sai sót về mặt chứng cứ cần được bù đắp bằng kỹ thuật xử lý khéo léo về mặt kỹ thuật tố tụng, quy trình, và logic pháp lý. Với cách tiếp cận này, chúng tôi không chỉ giữ được yêu cầu thanh toán, mà còn vô hiệu hóa được hàng loạt lập luận phản công từ phía bị đơn.

4.1 Tập trung khai thác triệt để về tố tụng

4.1.1 Thu hẹp tối đa phạm vi tranh chấp bằng việc khai thác các sai lầm tố tụng của Chủ đầu tư

Trong quá trình tố tụng, Chủ đầu tư đưa ra các cáo buộc Nhà thầu thi công chậm tiến độ (thực tế có chậm tiến độ), vi phạm về chất lượng, vi phạm nghĩa vụ bảo hành nhưng chỉ nêu quan điểm mà không đưa ra yêu cầu phản tố cụ thể và đúng hạn “trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” theo quy định tại Điều 200 BLTTDS 2015.

Điều này đã tạo điều kiện cho Nhà thầu có cơ hội bác bỏ toàn bộ các cáo buộc nêu trên với lập luận rằng các yêu cầu khấu trừ các khoản phạt vi phạm tiến độ, chất lượng hay bồi thường thiệt hại do Nhà thầu vi phạm bảo hành chưa được hai bên thừa nhận và không nằm trong phạm vi xét xử của vụ án này theo quy định tại Điều 5 BLTTDS 2015:

“Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”.

Lập luận này đã được Hội đồng xét xử chấp thuận và được thể hiện rõ trong phần nhận định tại Bản án phúc thẩm: “Bị đơn cũng không có đơn yêu cầu phản tố về các yêu cầu bảo hành công trình, cấp sổ, bàn giao căn hộ nên xem xét giải quyết là đúng”.

Rõ ràng, nếu giả định Chủ đầu tư đưa ra các yêu cầu phản tố đúng hạn về chậm tiến độ thì Nhà thầu sẽ gặp bất lợi hoàn toàn khi thời gian hoàn thành công trình thực tế chậm 5 - 6 tháng so với thỏa thuận ban đầu, không có hồ sơ quản lý tiến độ hay chấp thuận gia hạn thời hạn hoàn thành của Chủ đầu tư.

4.1.2 Giảm thiểu tối đa các vấn đề phải chứng minh của Nhà thầu

Căn cứ quy định Khoản 2 Điều 92 BLTTDS 2015 quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh:

“Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

Để áp dụng quy định này, đội ngũ luật sư rà soát chi tiết các bản tự khai, văn bản ý kiến, biên bản đối chất, các tài liệu khác do Chủ đầu tư cung cấp cho Tòa án, cũng như thu thập các luận trình tại phiên tòa để lọc ra các tình tiết, sự kiện đã được Chủ đầu tư thừa nhận có lợi cho lập luận của Nhà thầu.

Trong vụ án này, việc Chủ đầu tư thừa nhận về tiến độ và công việc hoàn thành được nghiệm thu đầy đủ giúp bớt áp lực chứng minh, giảm tranh cãi mất nhiều thời gian và hồ sơ liên quan tới giá trị công việc hoàn thành thực nghiệm. Tòa án có thể ghi nhận các nội dung tại biên bản làm việc nội bộ giữa hai bên như là chứng cứ nếu hợp tình hợp lý.

Lưu ý rằng, đối với một vụ án có khối lượng hồ sơ đồ sộ, nội dung kỹ thuật phức tạp, thì việc có cơ sở nội dung nào được thừa nhận sẽ tiết kiệm nhiều thời gian và tránh rủi ro chứng cứ.

4.2 Nhìn diện, đánh điểm – Tập trung giải quyết tranh chấp chính về vấn đề quyết toán

Trong suốt quá trình tranh tụng, một trong những lập luận trọng tâm mà tôi theo đuổi là: dù hợp đồng có quy định rõ về điều kiện thanh toán quyết toán và bảo hành, bao gồm cả việc Nhà thầu phải nộp hồ sơ đầy đủ, hợp lệ và bảo lãnh bảo hành, thì việc chưa hoàn tất các điều kiện đó không thể trở thành cái cớ để từ chối toàn bộ nghĩa vụ thanh toán - nhất là trong trường hợp lỗi lại phát sinh từ chính phía Chủ đầu tư.

Một vài lập luận cụ thể được đưa ra gồm:

  • Về căn chất pháp lý, vai trò của Nhà thầu là “lập và đề trình hồ sơ quyết toán”, còn trách nhiệm “tổ chức phê duyệt” hồ sơ quyết toán thuộc về Chủ đầu tư theo quy định tại Điều 112.2 (đ), Điều 147 Luật Xây dựng 2014 .
  • Chủ đầu tư đã tiếp nhận và hạch toán các hóa đơn VAT do Nhà thầu bàn giao và không có khiếu nại gì.
  • Các bên đã ký biên bản đối chiếu công nợ sau thời điểm nghiệm thu hoàn thành công trình và Chủ đầu tư không có phản đối gì về số liệu cuối cùng phải thanh toán cho Nhà thầu. Đây là hành vi xác nhận nghĩa vụ thanh toán một cách rõ ràng và có giá trị pháp lý độc lập.
  • Nhà thầu đã áp dụng Điều 428 BLDS 2015 để đơn phương chấm dứt hợp đồng do Chủ đầu tư chậm thanh toán.

V. Bài học rút ra

Thứ nhất, là luật sư tranh tụng bạn không nên quá sa đà vào việc lập luận tiểu tiết, lan man, hay đề trình quá nhiều tài liệu chứng cứ. Thay vào đó, hãy ưu tiên việc thu hẹp phạm vi tranh chấp trước nếu có thể. Việc cung cấp chứng cứ chỉ nên dừng lại ở mức đúng, đủ.

Thứ hai, trong lĩnh vực xây dựng, Nhà thầu luôn ở thế yếu trong việc đàm phán hợp đồng dẫn tới phải tuân thủ rất nhiều điều khoản bất lợi. Vì vậy, thay vì cố gắng tuân thủ những điều khoản bất lợi trong hợp đồng, thì phương án đơn phương chấm dứt hợp đồng (nếu có căn cứ) là một lựa chọn tốt để giải phóng Nhà thầu khỏi các điều khoản bất lợi.

Tác giả: Luật sư Trần Hữu Thung


Bảo lưu: Bài viết được trình bày dưới góc nhìn cá nhân với tư cách luật sư tham gia vụ việc. Một số thông tin đã được khái quát, lược bỏ hoặc điều chỉnh nhằm đảm bảo bảo mật và tôn trọng các bên liên quan. Nội dung không có giá trị áp dụng chung cho các vụ việc tương tự khác. Mọi tranh chấp có bối cảnh và tình tiết riêng, vui lòng tham khảo ý kiến luật sư có chuyên môn để được tư vấn trước khi bắt đầu quy trình tố tụng.

Về tác giả
Trần Hữu Thung
Luật sư Trần Hữu Thung

Luật sư Trần Hữu Thung là chuyên gia pháp lý với hơn 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực luật dân sự, đặc biệt chuyên sâu về tranh chấp thừa kế, hôn nhân gia đình và bất động sản. Hiện công tác tại Công ty Luật ABC & Cộng sự, đồng thời là Thành viên Chính thức của Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội với thẻ hành nghề số 1234/TP cấp từ năm 2011.

Trong sự nghiệp, ông đã trực tiếp tham gia giải quyết hơn 400 vụ án dân sự tại các cấp Tòa án nhân dân, bao gồm nhiều vụ tranh chấp phức tạp liên quan đến di sản thừa kế có yếu tố nước ngoài. Ông là tác giả của nhiều bài phân tích chuyên sâu được đăng tải trên Caselaw.vn và các tạp chí pháp lý chuyên ngành trong nước.

Ngoài công tác tư vấn và tranh tụng, ông tham gia giảng dạy tại Học viện Tư pháp và thường xuyên đóng góp ý kiến phản biện chính sách trong các hội thảo về hoàn thiện pháp luật dân sự do Bộ Tư pháp tổ chức.

Đừng bỏ lỡ tin tức quan trọng, bài viết của các chuyên gia!

Tin tức nổi bật

Cập nhật 24h

Hữu ích