[CASE STUDY] Khi thầu chính thắng kiện chủ đầu tư 123 tỷ - 2 bài học đắt giá cho nhà thầu từ vụ kiện kéo dài 3 năm - Phần 2/2: Chiến lược tranh tụng và bài học rút ra
IV. CHIẾN LƯỢC TRANH TỤNG
Trong bối cảnh hệ thống hồ sơ không đầy đủ, thiếu vắng nhiều tài liệu trọng yếu, việc xây dựng một chiến lược tranh tụng bài bản và chủ động trở thành yếu tố then chốt quyết định thành bại của vụ án. Thay vì chỉ phòng thủ trước các cáo buộc của đối phương, chúng tôi xác định phải chủ động kiểm soát phạm vi tranh chấp, tận dụng tối đa các quyền thủ tục và tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho nhà thầu. Mọi sai sót về mặt chứng cứ cần được bù đắp bằng kỹ thuật xử lý khéo léo về mặt kỹ thuật tố tụng, quy trình, và logic pháp lý. Với cách tiếp cận này, chúng tôi khống chế giữu được yêu cầu thanh toán, mà còn vô hiệu hóa được hàng loạt lập luận phản công từ phía bị đơn.
4.1. Tập trung khai thác triệt để về tố tụng
4.1.1.Thu hẹp tối đa phạm vi tranh chấp bằng việc khai thác các sai lầm tố tụng của Chủ đầu tư
Trong quá trình tố tụng, Chủ đầu tư đưa ra các cáo buộc Nhà thầu thi công chậm tiến độ (thực tế có chậm tiến độ), vi phạm về chất lượng, vi phạm nghĩa vụ bảo hành nhưng chỉ nêu quan điểm mà không đưa ra yêu cầu phản tố cụ thể và đúng hạn “trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” theo quy định tại Điều 200 BLTTDS 2015. Điều này đã tạo điều kiện cho Nhà thầu có cơ hội bác bỏ toàn bộ các cáo buộc nêu trên với lập luận rằng các yêu cầu khấu trừ các khoản phát vi phạm tiến độ, chất lượng hay bồi thường thiệt hại do Nhà thầu vi phạm bảo hành chưa được hai bên thừa nhận và không nằm trong phạm vi xét xử của vụ án này theo quy định tại Điều 5 BLTTDS 2015: “Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”. Lập luận này đã được Hội đồng xét xử chấp thuận và được thể hiện rõ trong phần nhận định tại Bản án phúc thẩm: “Bị đơn cũng không có đơn yêu cầu phản tố về các yêu cầu bảo hành công trình, cấp sổ, bàn giao căn hộ nên xem xét giải quyết là đúng”. Rõ ràng, nếu giả định Chủ đầu tư đưa ra các yêu cầu phản tố đúng hạn về chậm tiến độ thì Nhà thầu sẽ gặp bất lợi hoàn toàn khi thời gian hoàn thành công trình thực tế chậm 5 - 6 tháng so với thỏa thuận ban đầu, không có hồ sơ quản lý tiến độ hay chấp thuận gia hạn thời hạn hoàn thành của Chủ đầu tư.
4.1.2. Giảm thiểu tối đa các vấn đề phải chứng minh của Nhà thầu bằng việc áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 92 BLTTDS 2015
Căn cứ quy định Khoản 2 Điều 92 BLTTDS 2015 quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Để áp dụng quy định này, đội ngũ luật sư rà soát chi tiết các bản tự khai, văn bản ý kiến, biên bản đối chất, các tài liệu khác do Chủ đầu tư cung cấp cho Tòa án, cũng như thu thập các luận trình tại phiên tòa để lọc ra các tình tiết, sự kiện đã được Chủ đầu tư thừa nhận có lợi cho lập luận của Nhà thầu. Trong vụ án này, việc Chủ đầu tư thừa nhận về tiến độ và công việc hoàn thành được nghiệm thu đầy đủ Nhà thầu giúp bớt áp lực chứng minh, giảm tranh cãi mất nhiều thời gian và hồ sơ liên quan tới giá trị công việc hoàn thành thực nghiệm. Tòa án có thể ghi nhận các nội dung tại biên bản làm việc nội bộ giữa hai bên như là chứng cứ nếu hợp tình hợp lý. Lưu ý rằng, đối với một vụ án có khối lượng hồ sơ đồ sộ, nội dung kỹ thuật phức tạp, thì việc có cơ sở nội dung nào được thừa nhận mà tiết kiệm nhiều thời gian, chứng cứ tiềm ẩn nhiều rủi ro.
4.2. Nhìn diện, đánh điểm. Tập trung giải quyết tranh chấp chính về vấn đề quyết toán
Trong suốt quá trình tranh tụng, một trong những lập luận trọng tâm mà tôi theo đuổi là: dù hợp đồng có quy định rõ về điều kiện thanh toán quyết toán và bảo hành, bao gồm cả việc Nhà thầu phải nộp hồ sơ đầy đủ, hợp lệ và bảo lãnh bảo hành, thì việc chưa hoàn tất các điều kiện đó không thể trở thành cái cớ để từ chối toàn bộ nghĩa vụ thanh toán - nhất là trong trường hợp lỗi lại phát sinh từ chính phía Chủ đầu tư.
Một vài lập luận cụ thể được đưa ra gồm:
- Về căn chất pháp lý, vai trò của Nhà thầu là “lập và đề trình hồ sơ quyết toán”, còn trách nhiệm “tổ chức phê duyệt” hồ sơ quyết toán thuộc về Chủ đầu tư. Đây là sự phân định rõ ràng nghĩa vụ của các bên theo quy định tại Điều 112.2 (đ), Điều 147 Luật Xây dựng 2014. Nhà thầu đã hoàn thành nghĩa vụ của mình là lập và đề trình hồ sơ quyết toán cho Chủ đầu tư. Trong khiđó, Chủ đầu tư không phê duyệt, không phản hồi, hoặc chưa có cơ sở xử lý hồ sơ quyết toán là vi phạm nghĩa vụ. Việc chưa quyết toán được hoàn toàn do lỗi của chủ đầu tư.
- Chủ đầu tư đã tiếp nhận và hạch toán các hóa đơn VAT do Nhà thầu bàn giao và không có khiếu nại gì.
- Các bên đã ký biên bản đối chiếu công nợ sau thời điểm nghiệm thu hoàn thành công trình và Chủ đầu tư không có phản đối gì về số liệu cuối cùng phải thanh toán cho Nhà thầu. Đây là hành vi xác nhận nghĩa vụ thanh toán một cách rõ ràng, đầy đủ, và mang giá trị pháp lý độc lập bên cạnh hồ sơ quyết toán.
- Nhà thầu đã áp dụng Điều 428 BLDS 2015 để đơn phương chấm dứt Hợp đồng do Chủ đầu tư chậm thanh toán cho mục đích giải phóng hoàn toàn nghĩa vụ sửa đổi, bổ sung hồ sơ quyết toán, nghĩa vụ bảo hành, phát hành bảo lãnh đang tranh chấp cũng như chấm dứt quyền của Chủ đầu tư trong việc quản lý khoản tiền giữ lại.
V. BÀI HỌC RÚT RA
Thứ nhất, là luật sư tranh tụng bạn không nên quá xa đà vào việc lập luận tiểu tiết, lan man, hay đề trình quá nhiều tài liệu chứng cứ. Thay vào đó, hãy ưu tiên việc thu hẹp phạm vi tranh chấp trước nếu có thể. Việc cung cấp chứng chỉ chỉ nên dừng lại ở mức đúng, đủ.
Thứ hai, trong lĩnh vực xây dựng, Nhà thầu luôn ở thế yếu trong việc đàm phán hợp đồng dẫn tới phải tuân thủ rất nhiều điều khoản bất lợi. Vì vậy, thay vì cố gắng tuân thủ những điều khoản bất lợi trong hợp đồng, thì phương án đơn phương chấm dứt hợp đồng (nếu có căn cứ) là một lựa chọn tốt để giải phóng Nhà thầu khỏi các điều khoản bất lợi trong hợp đồng đã ký với Chủ đầu tư trước đó.
Tác giả: Luật sư Trần Hữu Thung
Bảo lưu: Bài viết được trình bày dưới góc nhìn cá nhân với tư cách luật sư tham gia vụ việc. Một số thông tin đã được khái quát, lược bỏ hoặc điều chỉnh nhằm đảm bảo bảo mật và tôn trọng các bên liên quan. Nội dung không có giá trị áp dụng chung cho các vụ việc tương tự khác. Mọi tranh chấp có bối cảnh và tình tiết riêng, vui lòng tham khảo ý kiến luật sư có chuyên môn để được tư vấn trước khi bắt đầu quy trình tố tụng
Tin tức nổi bật
Cập nhật 24h
Hữu ích