cơ sở dữ liệu pháp lý

Tuyển tập 5 loại hợp đồng quảng cáo cho các doanh nghiệp

Hợp Đồng Thi Công Lắp Đặt Hộp Đèn Quảng Cáo/ Contract for Installation of Ads Light boxes


Hợp Đồng Dịch Vụ Quảng Cáo TVC Tại Rạp Chiếu Phim/ TVC Advertising Agreement


Hợp Đồng Đại Lý Quảng Cáo/ Advertising Agency Agreement


Hợp Đồng Dịch Vụ Quảng Cáo - mỹ phẩm/ Endorsement Service Contract


Hợp đồng quảng cáo sản phẩm trên truyền hình

Tuyển tập 9 bộ mẫu hợp đồng cho thuê văn phòng, nhà xưởng, nhà kho (có bản tiếng Anh)

1)  Hợp Đồng Thuê Văn Phòng - Bên Cho Thuê Và Bên Thuê (Ms 01)

2)  Thỏa Thuận Cho Thuê Nhà Kho

3)  Hợp Đồng Thuê Nhà (đặt Trung Tâm Bảo Hành Dịch Vụ và Chăm Sóc Khách Hàng)/ Leasing Agreement

4)  Hợp Đồng Thuê Kho (cất giữ sản phẩm)/ Warehouse Leasing Contract

5)  Hợp Đồng Thuê Nhà/ Tenancy Contract

6)  Hợp Đồng Cho Thuê Nhà Xưởng/ Workshop Lease Contract

7)  Biên Bản Ghi Nhớ Thuê Địa Điểm Làm Văn Phòng Công Ty/ (MOU) The Leasing Arrangements For The Premises

8)  Thoả Thuận Ghi Nhớ Thuê Mặt Bằng (Thành lập Cty)/ MOU ON SURFACE RESERVATION

9)  Hợp Đồng Thuê Nhà (Ms 02)

Cảnh cáo thư ký tòa “mua nhà cứu bị đơn”

Xem thêm:
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Hội đồng Kỷ luật TAND TPHCM đã ra hình thức kỷ luật là cảnh cáo thư ký Nguyễn Đoàn Nam Hà. Hiện nay, Hà không được làm thư ký nghiệp vụ mà làm cán bộ tòa án. Hà bị cảnh cáo vì đã can thiệp vào một vụ án đòi tiền đặt cọc nhà
Bà Nguyễn Thị Bích Thủy, Chánh án TAND quận Bình Thạnh, cho biết như trên và nói trước đó, lãnh đạo tòa Bình Thạnh đã báo cáo vụ tiêu cực của thư ký Hà với TAND TPHCM. Nội dung vụ việc như sau:
Ông Trần Văn Hùng mua căn nhà số 82/150A Bùi Đình Túy của ông Nguyễn Tăng Phú Nhuận. Cả hai thống nhất giá bán căn nhà là 75 lượng vàng và ghi rõ: “Anh Nhuận chịu trách nhiệm lo đầy đủ giấy tờ ra tên anh Hùng đứng giấy chủ quyền nhà và sử dụng đất”.
Sau khi nhận 70 lượng vàng đặt cọc, Nhuận luôn lẩn tránh, sau đó, giao giấy tờ photo biên lai cho ông Hùng và nói lên quận hối thúc giấy tờ. Lên Phòng Quản lý Đô thị quận Bình Thạnh, ông Hùng mới hay căn nhà này nằm trong khu giải tỏa. Ông Hùng đòi lại tiền đặt cọc nhưng Nhuận lánh mặt. Ngày 3-3-2003, ông Hùng kiện Nhuận ra TAND quận Bình Thạnh đòi 70 cây vàng đặt cọc.

Bàn việc ở quán cà phê
Để tránh việc tẩu tán tài sản, ông Hùng đã yêu cầu TAND quận Bình Thạnh kê biên nhà của Nhuận, đó là nhà số 140/80 Phan Văn Trị.
Ông Hùng kể: “Ngày 26-3-2004, tôi đến phòng của thẩm phán Trần Văn Huệ để nhận quyết định kê biên căn nhà 140/80 Phan Văn Trị thì Hà có mặt ở đó và đi theo năn nỉ tôi cho gặp riêng. Tại quán cà phê ở quận 1, thư ký Hà tỏ ý muốn mua căn nhà mà Nhuận đã bán cho tôi với giá 80 cây vàng, sẽ đưa trước 160 triệu đồng và yêu cầu tôi giải tỏa kê biên căn nhà 140/80 Phan Văn Trị”.
Ông Hùng nói đây là chiêu thức để Hà đưa ông vào tròng. Nếu ông bán căn nhà cho Hà và nhận 160 triệu đồng đặt cọc rồi giải tỏa kê biên căn nhà 140/80 cho Nhuận thì Nhuận sẽ bán căn nhà này, lúc đó ông Hùng không còn gì để bảo đảm có thể thu lại được số vàng đặt cọc, còn Hà sẽ không mua nhà của ông.

Giấy triệu tập hay đương sự không đến?
Theo ông Hùng, vì TAND quận Bình Thạnh cho rằng nhà này có yếu tố người nước ngoài (chủ cũ đi nước ngoài) cùng với việc Nhuận không đến tòa theo giấy triệu tập nên vụ án cho đến giờ vẫn chưa ngã ngũ.
Bà Nguyễn Thị Bích Thủy, Chánh án TAND quận Bình Thạnh, nói ông Hùng cho rằng tòa cố tình kéo dài vụ án là không đúng, vì tòa có gửi giấy triệu tập nhiều lần nhưng ông Hùng không đến.
Ông Hùng giải thích tòa Bình Thạnh triệu tập ông nhiều lần là từ khi thẩm phán Trần Văn Huệ thụ lý (trước đó do thẩm phán khác thụ lý). Tuy nhiên, lúc ấy ông đã bán nhà nên không nhận được thư triệu tập và ông có để lại số điện thoại nhưng tòa không liên lạc.
Chánh án TAND TPHCM Bùi Hoàng Danh khẳng định đã chỉ đạo TAND quận Bình Thạnh kiểm tra chặt chẽ vụ án này để xét xử nghiêm minh.
------------------
Thư ký tòa “ làm nhà đất” lâu rồi
Thư ký Hà: Chỉ có bán căn nhà này, em với thằng Nhuận mới xoay nổi sự việc thôi...
Ông Hùng: Em làm ăn với nó (Nhuận) mấy năm rồi?
Hà: Dạ cũng lâu rồi, làm cũng được vài căn rồi... Giấy tờ em chuẩn bị sẵn đây, em viết liền cho anh...
Ông Hùng: Một là cách này, hai là em về tòa với anh viết giấy em đồng ý chịu trách nhiệm đứng ra giải quyết thay thế Nguyễn Tăng Phú Nhuận.
Hà: Không,... vì em viết giấy ra tòa cũng đâu chấp nhận, về pháp lý em là người không liên quan đến vụ án, em đâu có thể nhận trách nhiệm, nếu làm được em đã làm rồi.
Ông Hùng: Tại vì cái nhà kia nó không cần bán, cứ để hoài nên anh phải chuyển qua kê biên căn nhà này...
Hà: Anh khỏi cần kê biên căn nhà nào hết..., em bán cực nhanh rồi giao hết tiền cho anh. Em hứa với anh trong vòng 7 ngày mà không đưa hết tiền cho anh, em là con chó...
(Trích băng ghi âm cuộc trao đổi giữa ông Hùng và thư ký Hà ngày 26-3-2004)
(Theo Bích Phượng, www.nld.com.vn, 28/09/2004 05:23)

Quyết định 199/QĐ-CA về việc công bố án lệ

Ngày 17/10/2018, Hội Đồng Thẩm Phán TAND Tối Cao đã công bố thêm 11 án lệ mới theo Quyết định số 199/QĐ-CA về việc công bố án lệ, bao gồm: 4 án lệ về hình sự; 1 án lệ về lao động; 6 án lệ về Dân sự và Kinh doanh thương mại. Như vậy, tính đến hết năm 2018, đã có tất cả 27 án lệ được công bố tại Việt Nam. Caselaw Việt Nam đang cập nội dung án lệ đính kèm văn bản. 

Xem thêm: Tuyển tập 20 dự thảo án lệ năm 2018 tại: https://caselaw.vn/tong-hop-ban-an/tuyen-tap-20-du-thao-an-le-nam-2018


Tóm tắt nội dung các án lệ mới vừa được công bố gồm:

1. Án lệ số 17/2018/AL về tình tiết “Có tính chất côn đồ” đối với người giúp sức trong tội “Giết người” .

Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 07/2018/HS-GĐT ngày 20-3-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Giết người” đối với bị cáo Nguyễn Văn H, sinh năm 1977; trú tại phố A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (Ngoài ra trong vụ án này còn có các bị cáo Trần Quang V, Phạm Nhật T bị kết án về tội “Giết người”; Dương Quang L bị kết án về tội “Che giấu tội phạm”).  Bị hại: Ông Dương Quang Q.

2. Án lệ số 18/2018/AL về hành vi giết người đang thi hành công vụ trong tội “Giết người”.

Nguồn án lệ: Bản án phúc thẩm số 331/2018/HS-PT ngày 28-5-2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án “Giết người” đối với bị cáo: Phan Thành H, tên gọi khác: Đ; sinh ngày: 02-2-1995; nơi đăng ký HKTT: Xã C, huyện D, tỉnh Bình Định; chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bình Định.  Bị hại: Anh Nguyễn Anh Đ.

3. Án lệ số 19/2018/AL về tình tiết phạm tội “có tổ chức” trong tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 10/2013/HS-GĐT ngày 22-7-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với các bị cáo: (1) Phan Chí L sinh năm 1950; trú tại khu phố B, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.(2) Nguyễn Thị H sinh năm 1959; trú tại khu phố B, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Bị hại: có 30 người bị hại, trú tại các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hóa.

4. Án lệ số 20/2018/AL về xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong “Tội tham ô tài sản”

Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 09/2015/HS-GĐT ngày 23-4-2015 của Tòa Hình sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tham ô tài sản” đối với bị cáo: Võ Thị Ánh N, sinh năm 1981; trú tại số 17, đường A, phường B, thành phố C, tỉnh Bình Định. Ngoài ra, trong vụ án còn có Phan Thị Q bị kết án về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”; Võ Thị Kim T bị kết án về tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước”.

5. Án lệ số 21/2018/AL về xác lập quan hệ hợp đồng lao động theo loại hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc trong thư mời làm việc

Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 01/2017/LĐ-GĐT ngày 09-8-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án lao động “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” tại tỉnh Bình Thuận giữa nguyên đơn là ông Trần Công T với bị đơn là công ty trách nhiệm hữu hạn L (đại diện theo pháp luật là ông H).

6. Án lệ số 22/2018/AL về lỗi và thiệt hại trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng cho thuê tài sản

Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 08/2016/KDTM-GĐT ngày 20-5-2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh, thương mại “Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài sản” tại tỉnh Quảng Ninh giữa nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn D với bị đơn là Công ty cổ phần C.

7. Án lệ số 23/2018/AL về nghĩa vụ cung cấp thông tin về tình trạng bệnh lý trong hợp đồng bảo hiểm

Nguồn án lệ: Bản án dân sự phúc thẩm số 313/2016/DS-PT ngày 16-3-2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm giữa nguyên đơn là ông Đặng Văn L (người đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Văn L là ông Trần Xuân H) với bị đơn là Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ C (người đại diện theo ủy quyền là ông Hoàng P, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là ông Đinh Quang T, ông Trần Ngọc T).

8. Án lệ số 24/2018/AL về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khi bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm do lỗi của doanh nghiệp bảo hiểm

Nguồn án lệ: Bản án dân sự phúc thẩm số 538/2009/DS-PT ngày 31-3-2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” giữa nguyên đơn là bà Phạm Thị T với bị đơn là Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị Minh N.

9. Án lệ số 25/2018/AL về di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân

Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 27/2015/DS-GĐT ngày 16-10-2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án dân sự “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị H2 với bị đơn là ông Phạm Văn H3; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 12 người.

10. Án lệ số 26/2018/AL về đặt cọc để bảo đảm giao kết hợp đồng

Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 79/2012/DS-GĐT ngày 23-02-2012 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” tại Thành phố Hồ Chí Minh giữa nguyên đơn là ông Phan Thanh L với bị đơn là bà Trương Hồng Ngọc H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lại Quang T.

11. Án lệ số 27/2017/AL về xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản

Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 06/2017/DS-GĐT ngày 27-3-2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “tranh chấp thừa kế tài sản và chia tài sản chung” ở Hà Nội giữa nguyên đơn là ông Cấn Xuân V, bà Cấn Thị N1, bà Cấn Thị T1, bà Cấn Thị H, ông Cấn Xuân T, bà Cấn Thị N2, bà Cấn Thị M1. Người đại diện cho các đồng nguyên đơn là bà Cấn Thị N2 và bị đơn là cụ Nguyễn Thị L, ông Cấn Anh C. Người đại diện cho các đồng bị đơn theo ủy quyền là: Ông Lê Hồng L. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 07 người.

(Dự thảo án lệ số 1) Quyết định GĐT số 01/2017/KDTM-GĐT ngày 1/3/2017 về công nhận hợp đồng thế chấp QSDĐ mà trên đất có tài sản không thuộc sở hữu của bên thế chấp

Án lệ số  /2017/AL về công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản không thuộc sở hữu của bên thế chấp

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày…  tháng … năm 2017 và được công bố theo Quyết định số …/QĐ-CA ngày … tháng … năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 01/2017/KDTM-GĐT ngày 01-3-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh, thương mại “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là Ngân hàng A với bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 10 người.

Vị trí nội dung án lệ:

Đoạn 4 phần “Nhận định của Toà án”

Khái quát nội dung của án lệ:

- Tình huống án lệ 1:

Một bên thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nhưng trên đất còn có tài sản thuộc sở hữu của người khác;hình thức và những nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật.

- Giải pháp pháp lý 1:

Trường hợp này, Tòa án phải xác định hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật.

- Tình huống án lệ 2:

Bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận bên nhận thế chấp được bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản gắn liền với đất không thuộc sở hữu của người sử dụng đất.

- Giải pháp pháp lý 2:

Trường hợp này, khi giải quyết Tòa án phải dành cho chủ sở hữu nhà trên đất được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó nếu họ có nhu cầu.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với Điều 318 Bộ luật dân sự năm 2015); Điều 715, Điều 721Bộ luật Dân sự năm 2005; mục 4 khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22-02-2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (pháp điển hóa tại khoản 2 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Từ khóa của án lệ:

“Thế chấp quyền sử dụng đất”; “Trên đất có tài sản của người khác”; “Thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp”; “Ưu tiên nhận chuyển nhượng”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 6/10/2011 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là Ngân hàng A trình bày:

Ngày 16-6-2008, Ngân hàng A (sau đây viết tắt là Ngân hàng)và Công ty trách nhiệm hữu hạnB (sau đây viết tắt là Công ty B) ký Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142. Theo đó, Ngân hàng cho Công ty B vay 10.000.000.000 đồng và/hoặc bằng ngoại tệ tương đương. Mục đích cấp tín dụng để bổ sung vốn lưu động phục vụ kinh doanh theo nghề đăng ký của Công ty B.

Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân tổng cộng 3.066.191.933 đồng cho Công ty Btheo các Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ. Tính đến ngày 05-10-2011, Công ty Bcòn nợ gốc và lãi của 03 Khế ước là 4.368.570.503 đồng (trong đó nợ gốc là 2.943.600.000 đồng, nợ lãi là 1.424.970.503 đồng).

Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là nhà, đất [thửa đất số 43, tờ bản đồ số 5I-I-33 (1996)] tại số 432, tổ 28, phường E, quận G, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông H và bà N (theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số 10107490390 do Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 07-12-2000), do ông H, bà N thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11-6-2008. Hợp đồng thế chấp này được Phòng công chứng số 6 thành phố Hà Nội công chứng ngày 11-6-2008 và Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 11-6-2008.

Ngày 30-10-2009, Ngân hàng và Công ty Btiếp tục ký Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200900583. Theo đó, Ngân hàng cho Công ty B vay 180.000 USD. Mục đích vay để thanh toán tiền vận chuyển hàng hóa lô hàng xuất khẩu; thời hạn vay 09 tháng; lãi suất vay 5,1%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150%.

Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền vay 180.000 USD cho Công ty B. Công ty B mới trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 100.750 USD và số nợ lãi là 1.334,50 USD. Tính đến ngày 05-10-2011, Công ty Bcòn nợ gốc là 79.205 USD và nợ lãi là 16.879,69 USD. Tổng cộng cả nợ gốc và lãi là 96.120,69 USD.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-2009058 gồm:

- Lô hàng 19 xe ô tô tải thành phẩm trọng tải 1,75 tấn hiệu JMP mới 100% trị giá 2.778.750.000 đồng (do Công ty B lắp ráp theo phương thức hàng để kho đơn vị, Ngân hàng giữ Giấy chứng nhân đăng kiểm chất lượng xe xuất xưởng) do Công ty Bthế chấp theo Hợp đồng thế chấpsố 219/2009/EIBHBT-CC ngày 29-10-2009. Hợp đồng thế chấp này được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Cục đăng ký giao dịch bảo đảm thành phố Hà Nội ngày 02-11-2009;

- Số dư tài khoản tiền gửi kỳ hạn 03 tháng trị giá 1.620.000.000 đồng do Ngân hàng phát hành. Do Công ty Bđã thực hiện được một phần nợ vay nên Ngân hàng đã giải chấp số tiền 1.620.000.000 đồng tiền gửi trong tài khoản tiết kiệm của Công ty B, tương ứng với số nợ đã thanh toán.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Ngân hàng xác nhận: đối với khoản vay 180.000 USD, Công ty B đã trả xong nợ gốc; chỉ còn lại nợ lãi là 5.392,81 USD; tài sản bảo đảm là 19 xe ô tô, hiện đã bán 18 chiếc, còn lại 01 chiếc; đề nghị Tòa án cho xử lý nốt chiếc xe còn lại để thu hồi nợ vay còn thiếu.

Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc:

- Công ty Bthanh toán số nợ gốc và lãi bằng VNĐ của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142 là 4.368.570.503 đồng;

- Công ty Bthanh toán 5.392,81 USD nợ lãi bằng USD của Hợp đồng tín dụng số 1702-LVA-200900583.

Trong trường hợp, Công ty Bkhông thanh toán hoặc thanh toán không đủ đề nghị Tòa án phát mãi tài sản thế chấp là:

- Quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở tại số 432, tổ 28, phường E, quận G, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông H và bà N;

- 01 xe ô tô tải thành phẩm, trọng tải 1,75 tấn, hiệu JMP mới 100% do Công ty Blắp ráp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 219/2009/EIBHBT- CC ngày 29-10-2009.

Đại diện bị đơn là anh T - Tổng Giám đốc Công ty B trình bày: Thừa nhận số tiền nợ gốc, lãi và tài sản thế chấp như Ngân hàng trình bày nhưng đề nghị Ngân hàng cho trả nợ dần.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông H và bà N trình bày: Ông bàthừa nhận ký hợp đồng thế chấp nhà, đất số 432 nêu trên để bảo đảm cho khoản vay tối đa là 3.000.000.000 đồng của Công ty B. Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm. Gia đình ông H và bà N cũng đã hỗ trợ Công ty trả được gần 600.000.000 đồng cho khoản vay có tài sản thế chấp là nhà và đất của ông bà. Ông, bà đề nghị Ngân hàng gia hạn khoản nợ của Công ty Bđể Công ty có thời gian phục hồi sản xuất, thu xếp trả nợ cho Ngân hàng; đề nghị Tòa án không triệu tập các con trai, con dâu, con gái và con rể của ông bà đến Tòa án làm việc.

Anh P thay mặt cho những người con, cháu của ông H, bà N đang sống tại nhà, đất số 432 trình bày:

Cuối năm 2010, anh mới biết bố mẹ anh thế chấp nhà đất của gia đình đang ở để bảo đảm cho khoản vay của Công ty B. Sau khi ông H, bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở năm 2000, anh Pvà anh Q đã bỏ tiền ra xây dựng thêm một ngôi nhà 3,5 tầng trên đất và 16 người trong gia đình hiện đang ở tại nhà, đất số 432 nêu trên. Khi ký hợp đồng thế chấp, Ngân hàng không hỏi ý kiến các anh và những người đang sinh sống tại nhà, đất này. Do đó, anh đề nghị Tòa án không công nhận hợp đồng thế chấp và xem xét số tiền 550.000.000 đồng mà anh em các anh đóng góp vào trả nợ cho Công ty B theo Hợp đồng tín dụng có tài sản bảo đảm là nhà, đất số 432 nêu trên nhưng Ngân hàng tự ý trừ vào khoản vay ngoại tệ có tài sản bảo đảm là 19 xe ô tô là không đúng.

Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 59/2013/KDTM-ST ngày 24/9/2013, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với Công ty TNHH B.

- Buộc Công ty TNHH B phải thanh toán trả cho Ngân hàng A số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142, bao gồm:nợ gốc 2.813.600.000 đồng; nợ lãi trong hạn 2.080.977.381 đồng; nợ lãi quá hạntính đến ngày 23-9-2013 1.036.575.586đồng; tiền lãi phạt chậm trảtính đến ngày 23-9-2013123.254.156 đồng; Tổng cộng:  6.054.407.123 đồng.

- Buộc Công ty TNHHBphải thanh toán trả cho Ngân hàng A số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800583, gồm số tiền nợ lãi quá hạn là 5.392,81 USD.

Trong trường hợp Công ty TNHH Bkhông trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142, thì Ngân hàng Acó quyền yêu cầu Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại thửa số 43, tờ bản đồ số 5I-I-33 (1996) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số 10107490390 do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 07-12-2000 cho ông H và bà N tại địa chỉ số 432, tổ 28, phường E, quận G, thành phố Hà Nội để thu hồi nợ…

Trường hợp Công ty TNHH Bkhông trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800583, thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội xử lý tài sản bảo đảm là 01 chiếc xe ô tô tải, trọng tải 1,75 tấn hiệu JMP do Công ty TNHH Blắp ráp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 219/2009/EIBHBT-CC ngày 29-10-2009 để thu hồi nợ.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 111/2014/KDTM-PT ngày 07-7-2014, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định:

Giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 59/2013/KDTM-ST ngày 24-9-2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về Hợp đồng tín dụng, về các khoản tiền vay và tiền Công ty B phải trả Ngân hàng A;hủy phần quyết định của Bản án sơ thẩm số 59/2013/KDTM-ST ngày 24-9-2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về  phần hợp đồng thế chấp, bảo đảm của người thứ 3, cụ thể:

… Hủy phần quyết định về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người thứ 3 (nhà đất số 432, tổ 28 phường E, quận G, thành phố Hà Nội) ký ngày 11-6-2008 tại Phòng công chứng số 6 thành phố Hà Nội và đăng ký tài sản bảo đảm tại Sở tài nguyên và môi trường thành phố Hà Nội ngày 11-6-2008…

Giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để xác minh, thu thập chứng cứ và xét xử lại, xác định phần tài sản hợp pháp thuộc sở hữu của ông H, bà N làm tài sản thế chấp bảo đảm cho Công ty TNHH B đối với khoản tiền vay ở Ngân hàng A theo Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142 ngày 16-6-2008.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, Ngân hàng, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có văn bản đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Kháng nghị giám đốc thẩm số 14/2016/KDTM-KN ngày 12-4-2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 111/2014/KDTM-PT ngày 7-7-2014 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 111/2014/KDTM-PT ngày 7-7-2014 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 59/2013/KDTM-ST ngày 24-9-2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xử hủy bản án phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Hồ sơ vụ án thể hiện, để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142 ngày 16-6-2008 tại Ngân hàng của Công ty B do anh T là con trai ông H, bà N làm Giám đốc, thì ngày 11-6-2008, ông H và bà N đã thế chấp nhà, đất tại số 432,tổ 28, phường E, quận G, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông H, bà N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11-6-2008. Hợp đồng thế chấp này được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

[2] Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở ngày 07/12/2000, thì nhà, đất tại số 432, tổ 28, phường E, quận G, thành phố Hà Nội (sau đây viết tắt là nhà, đất số 432), gồm: diện tích đất ở 147,7 m2, diện tích nhà ở 85 m2, kết cấu nhà: bê tông và xây gạch; số tầng: 02+01. Khi thẩm định tài sản thế chấp, Ngân hàng biết trên diện đất 147,7 m2 ngoài căn nhà 02 tầng đã được đăng ký sở hữu, còn có căn nhà 3,5 tầng chưa đăng ký sở hữu nhưng Ngân hàng chỉ định giá quyền sử dụng đất và căn nhà 02 tầng đã đăng ký sở hữu với tổng giá trị nhà, đất là 3.186.700.000 đồng, mà không thu thập thông tin, tài liệu để xem xét làm rõ nguồn gốc cũng như ai là chủ sở hữu căn nhà 3,5 tầng là thiếu sót, không đảm bảo quyền lợi của các đương sự.

[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 06-6-2012, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, xác định: nhà, đất số 432 có 02 khối nhà (gồm: khối nhà thứ nhất: diện tích chiếm đất là 37,5 m2, chiều dài 5,9 m, chiều rộng 6,35 m; khối nhà thứ hai là nhà bê tông ba tầng có ban công, diện tích 61,3 m2) và hiện có 16 người thường trú, đăng ký dài hạn, thường xuyên sinh sống. Trước khi xét xử sơ thẩm, ngày 21-9-2013, anh P (con trai ông H, bà N) có Đơn kiến nghị gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội cho rằng sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở năm 2000, do khó khăn về chỗ ở, năm 2002, gia đình ông H, bà N đã thống nhất để anh P và những người con của ông H, bà N bỏ tiền ra xây dựng thêm căn nhà 3,5 tầng bên cạnh căn nhà 02 tầng cũ trên thửa đất nói trên. Như vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội biết trên thực tế hiện trạng thửa đất khi thế chấp đã có 02 căn nhà (căn nhà 02 tầng cũ và căn nhà 3,5 tầng) không đúng theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở năm 2000 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11-6-2008. Khi giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có xem xét yêu cầu của anh P và những người con ông H, bà N liên quan đến căn nhà 3,5 tầng nhưng Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội không quyết định rõ có xử lý phát mãi căn nhà 3,5 tầng hay không là không đúng, không đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.

[4] Theo quy định tại mục 4 khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm: “Trong trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất theo như thỏa thuận giữa người sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quyền và nghĩa vụ giữa bên thế chấp và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người mua, người nhận chính quyền sử dụng đất”. Trong vụ án này, khi ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, bên thế chấp (ông H, bà N) và bên nhận thế chấp (Ngân hàng) đều biết rõ trên thửa đất của ông H, bà N ngoài căn nhà 02 tầng đã được đăng ký quyền sở hữu thì trên đất còn có một căn nhà 3,5 tầng chưa được đăng ký quyền sở hữu nhưng các bên chỉ thỏa thuận thế chấp tài sản gồm quyền sử dụng đất và căn nhà 02 tầng gắn liền với đất. Trường hợp trên đất có nhiều tài sản gắn liền với đất mà có tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất, có tài sản thuộc sở hữu của người khác mà người sử dụng đất chỉ thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của mình, hợp đồng thế chấp có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật thì hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11-6-2008 có một phần bị vô hiệu (phần có căn nhà 3,5 tầng); xử hủy phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hợp đồng thế chấp và giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để xác minh, thu thập chứng cứ xác định phần tài sản hợp pháp thuộc sở hữu của ông H, bà N và xét xử lại là không đúng. Lẽ ra, với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm cần xem xét, quyết định về xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và căn nhà thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông H, bà N theo quy định của pháp luật. Khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm cần yêu cầu đương sự cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh nguồn gốc hình thành căn nhà 3,5 tầng nêu trên để giải quyết vụ án bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho những người đã bỏ tiền ra xây dựng nhà và đang sinh sống tại đó. Đồng thời, Tòa án cấp phúc thẩm cần hỏi ý kiến, động viên, khuyến khích các đương sự thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp. Trường hợp bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận bên nhận thế chấp được bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng diện tích đất mà trên đất có nhà thuộc sở hữu của người khác không phải là người sử dụng đất thì cần dành cho chủ sở hữu nhà đó được quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu mua (nhận chuyển nhượng).

[5] Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ theo thỏa thuận của các bên tại khoản 5.4 Điều 5 Hợp đồng tín dụng về lãi phạt chậm trả trên số lãi chưa thanh toán “lãi phạt chậm trả là quá 10 ngày kể từ ngày đáo hạn, mức lãi phạt là 2% trên số lãi chưa thanh toán; quá 30 ngày kể từ ngày đáo hạn, mức lãi phạt là 5% trên số lãi chưa thanh toán” để chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng buộc Công ty B phải trả số tiền lãi phạt chậm trả123.254.156 đồng là không đúng pháp luật, không được chấp nhận vì đây là lãi chồng lãi. Tòa án cấp phúc thẩm không phát hiện ra sai sót này, vẫn giữ nguyên quyết định này của bản án sơ thẩm cũng là không đúng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 337, khoản 3 Điều 343, Điều 345 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25-11-2015 về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự;

1. Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 14/2016/KDTM-KN ngày 12-4-2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

2.  Hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 111/2014/KDTM-PT ngày 07-7-2014 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội về vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng A, bị đơn là Công ty TNHH B và 10 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm đúng quy định của pháp luật.

NỘI DUNG ÁN LỆ

“[4] Trường hợp trên đất có nhiều tài sản gắn liền với đất mà có tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất, có tài sản thuộc sở hữu của người khác mà người sử dụng đất chỉ thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của mình, hợp đồng thế chấp có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật thì hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật…

…Trường hợp bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận bên nhận thế chấp được bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng diện tích đất mà trên đất có nhà thuộc sở hữu của người khác không phải là người sử dụng đất thì cần dành cho chủ sở hữu nhà đó được quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu mua (nhận chuyển nhượng).”

(nguồn: anle.toaan.gov.vn)

TIẾNG ANH PHÁP LÝ: VÌ SAO TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH LUẬT KHÓ nhưng “ĐANG DỄ HƠN”?

Tác giả: Luật sư Trịnh Ngọc Tuấn

Facebook: The skilled lawyers - Kỹ năng luật sư: https://www.facebook.com/theskilledlawyers/

--------------------------------------------------------------------------------------------------

Tiếng Anh pháp lý khó, các bạn nào đọc bài “HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY KỸ NĂNG SOẠN THẢO PHÁP LÝ BẰNG TIẾNG ANH TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TRÊN THẾ GIỚI - tác giả Nguyễn Bá Trường Giang” thì cũng đã cảm nhận thấy rồi. Bài này tôi xin nói cụ thể thêm về xu hướng phát triển của TAPL và những cái “khó” của nó. Cái khó đối với chính người bản địa (Anh, Mỹ, Úc…) và cái khó đối với người Việt Nam khi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai của chúng ta.

1. CÁI KHÓ VỚI NGƯỜI BẢN ĐỊA 

Để sử dụng thành thạo ngôn ngữ pháp lý, đương nhiên bạn phải hiểu được các thuật ngữ pháp lý, các học thuyết pháp lý, v.v. Ngôn ngữ pháp lý sẽ có những cái khó thuộc về bản chất tự nhiên của ngành luật, ở bất kỳ thứ tiếng nào, dù là tiếng Việt, Trung, Hàn, Nhật, Anh, Pháp, vân vân. 

Tuy nhiên, ngoài những cái khó thuộc về bản chất tự nhiên của ngành luật, TAPL còn khó (với cả người bản địa) vì nguyên nhân chính là “legalese”, xin giữ nguyên từ “legalese” vì tôi không biết từ tiếng Việt nào tương đương, và theo tôi “legalese” là 1 bộ phận của TAPL chứ không hoàn toàn là TAPL). Người Anh-Mỹ dùng từ “legalese” để chỉ một loại ngôn ngữ mà giới luật sư, thẩm phán sử dụng trong cách viết văn bản pháp lý (luật lệ, bản án, hợp đồng, v.v.) khiến cho những người “ngoại đạo” không thể hiểu nổi. Legalese là các kiểu câu, từ thường hay được sử dụng trong TAPL. Tôi xin nêu ra mấy đặc điểm chính của legalese:

✎ Câu dài dòng, nhiều mệnh đề, chia tách không rõ ràng, dẫn đến việc khi đọc rất khó nắm bắt được ý nghĩa của câu, kể cả với người có vốn từ tiếng Anh tốt, hiểu nghĩa từng từ, từng cụm nhưng khi đọc vẫn vất vả. Ví dụ 1 câu: “(a) Any person who, by means of any machine, instrument, or contrivance, or in any other manner, intentionally taps, or makes any unauthorized connection, whether physically, electrically, acoustically, inductively, or otherwise, with any telegraph or telephone wire, line, cable, or instrument, including the wire, line, cable, or instrument of any internal telephonic communication system, or who willfully and without the consent of all parties to the communication, or in any unauthorized manner, reads, or attempts to read, or to learn the contents or meaning of any message, report, or communication while the same is in transit or passing over any wire, line, or cable, or is being sent from, or received at any place within this state; or who uses, or attempts to use, in any manner, or for any purpose, or to communicate in any way, any information so obtained, or who aids, agrees with, employs, or conspires with any person or persons to unlawfully do, or permit, or cause to be done any of the acts or things mentioned above in this section, is punishable by a fine not exceeding two thousand five hundred dollars ($2,500), or by imprisonment in the county jail not exceeding one year, or by imprisonment pursuant to subdivision (h) of Section 1170, or by both a fine and imprisonment in the county jail or pursuant to subdivision (h) of Section 1170. If the person has previously been convicted of a violation of this section or Section 632, 632.5, 632.6, 632.7, or 636, he or she is punishable by a fine not exceeding ten thousand dollars ($10,000), or by imprisonment in the county jail not exceeding one year, or by imprisonment pursuant to subdivision (h) of Section 1170, or by both that fine and imprisonment.” 

✎Dùng các từ latin và tiếng Anh“cổ đại”, những từ mà gần như đã “chết” trong tiếng Anh hiện tại. Cách dùng từ này khiến những người ngoại đạo (kể cả là giáo viên tiếng Anh giỏi) khi đọc văn bản pháp lý cũng bó tay. Ví dụ: từ latin phổ biến như ab initio, ad hoc, bona fide, casus fortuitous, caveat emptor, de facto, de jure, v.v. những từ tiếng Anh cổ (thậm chí có từ tra từ điển không thấy), hereinabove, witnesseth, aforesaid, heretofore, therefor, v.v. 

✎Dùng các cụm từ đôi, ba, v.v. của những từ cùng hoặc sát nghĩa một cách thừa thãi. Cách dùng từ này làm tăng sự rườm rà, phức tạp của kiểu câu vốn đã dài dòng như đề cập ở trên. Bạn sẽ thường gặp các cụm từ phổ biến ví dụ như: “Will and testament”; “covenants and agreements”; “fit and proper”; “convey, transfer and set over”; “cancel, annul and set aside”; “term, provision, covenants and agreements”; v.v. Tất cả các từ này nghĩa trùng sát nhau và thật ra có thể viết lại trong tiếng Anh hoặc dịch ra tiếng Việt bằng 1 từ.


 Tại sao legalese tồn tại trong TAPL

Nước Anh xa xưa từng là thuộc địa của nhiều dân tộc khác, ngôn ngữ của họ chịu ảnh hưởng của nhiều thứ ngôn ngữ khác trong quá khứ. So sánh 1 chút với Việt Nam, vốn chịu ảnh hưởng nhiều bởi người Hán. Cổ nhân Việt thường dùng chữ Hán để sáng tác thơ. Tôi xin trích đoạn thơ trong bài thơ của Nguyễn Khuyễn (ông sống cách thời đại chúng ta khoảng hơn 100 năm) “Ái cúc dữ ái liên. Cổ giả ái phi nhất. Dư tính tố kiêm ái. Vãn niên độc ái quất…” Chắc bạn cũng giống tôi, đều không hiểu nghĩa mặc dù bạn biết đọc tiếng Việt. Khá tương tự, người bản địa Anh-Mỹ hiện đại sẽ không hiểu khi giới luật sư/thẩm phán sử dụng những từ ngữ & cấu trúc cách đây hơn cả trăm năm! Tại sao họ cổ hủ vậy? Hãy tự hỏi bạn thường làm gì khi phải soạn 1 hợp đồng. Gần như không có ai viết từ đầu cả, bạn sẽ chọn một form mẫu mà bạn thấy phù hợp nhất và dùng nó. Bạn chỉ chỉnh sửa những phần cần thiết, giữ nguyên những gì bạn thấy ổn. Tương tự như bạn, giới luật sư Anh (chắc cũng có từ lâu lắm rồi) cũng đã duy trì và giữ lại các từ, cụm từ, cách viết câu cách đây cả trăm năm trước, và thế là “legalese” tồn tại đến bây giờ.

2. CÁI KHÓ VỚI NGƯỜI VIỆT NAM

Khó vì “legalese” như đã nói ở trên rồi. Ngoài ra với luật sư/sinh viên luật VN sẽ gặp thêm 1 số khó khăn sau. 

✎Khó khăn tiếp cận hệ thống pháp luật Anh-Mỹ: Học TAPL không đơn thuần chỉ là học ngoại ngữ mà còn liên quan đến việc hiểu về luật Anh-Mỹ (common law). Việt Nam theo hệ thống Civil law, do đó có nhiều khái niệm/tư duy của Common law sẽ khá xa lạ và trìu tượng đối với giới luật sư/sinh viên luật của Việt Nam. Một số nước Đông Nam Á khác như Philipine, Singapore, Myanmar và Malaysia, họ có dùng common law, nên đối với những nước này (kể cả không nói tiếng Anh) thì luật sư của họ sẽ có lợi thế hơn khi tiếp cận TAPL. 

✎Khó khăn chung của người Việt khi học tiếng Anh: Tôi tạm bỏ qua kỹ năng nghe-nói để chỉ nói đến kỹ năng đọc-viết vì đây là 2 kỹ năng rất quan trọng với luật sư. Để đọc và viết tốt thì phải có hai thứ, vốn từ vựng và ngữ pháp. Từ vựng tiếng Anh (nghe đâu tận 600 nghìn) là thuộc loại nhiều so với một số ngôn ngữ khác (bao gồm tiếng Việt). Từ vựng nhiều thì học sẽ khó rồi, chưa kể luật sư còn phải biết thêm từ vựng pháp lý nữa. Còn ngữ pháp tiếng Anh thì cá nhân tôi thấy khó. Lớp 6 tôi phải học các thì (“tenses”) trong tiếng Anh, lên lớp 10 vẫn học lại, rồi đến đại học, ra trường học tiếp mà đến tận bây giờ vẫn thấy nó rắc rối. Phải nhớ nào là các dạng của động từ (present, past, past participle), nhớ cấu trúc câu của từng thì (be, have done, have been doing, will, will be…) và nhiều thứ khác. Trong khi tiếng Việt ta phần “thì” này rất gọn. Động từ cố định: hôm qua, bây giờ hay ngày mai “làm” gì thì cũng đều dùng từ “làm” (tiếng Anh bạn phải nhớ 3 từ khác nhau cho 1 nghĩa “làm”: do, did, done). Quá khứ, hiện tại hay tương lai chỉ cần chèn từ “đã”, “đang” hay “sẽ”, không phải nhớ quá nhiều công thức như “have done”, “have been doing”, .v.v.

3. TIẾNG ANH PHÁP LÝ ĐANG “DỄ HƠN”

Mặc dù ở trên đã nói về những cái khó của TAPL rồi, nhưng tôi thật sự rất tự tin là các thế hệ luật sư về sau của VN sẽ có trình độ TAPL tốt hơn so với tôi và các thế hệ đi trước. Có hai nguyên nhân chính sau:

✎TAPL hiện đại đang dần loại bỏ “legalese” 

Các nước nói tiếng Anh đang cải cách TAPL để nó dễ dàng và gần với tiếng Anh hiện đại hơn. Legalese - đang dần dần bị loại bỏ khỏi TAPL tại các nước này. Năm 2010, Tổng thống Obama đã ký đạo luật “Plain writing Act”, đạo luật nhằm loại bỏ “legalese” trong văn bản của các cơ quan thuộc chính phủ Mỹ. Tất nhiên thay đổi nào cũng sẽ cần một thời gian đủ dài. Hiện tại, tôi thấy các bản án gần đây của Tòa Tối cao Mỹ (thời Robert) được viết với rất ít legalese. Khi dự thính đàm phán giữa các luật sư bản địa của các nước đó (partner người Úc của 1 firm top 20 thế giới và luật sư nội bộ của 1 tập đoàn lớn của Mỹ), tôi thấy form hợp đồng họ dùng tất nhiên vẫn có legalese nhưng không đến mức đậm đặc gây khó hiểu. Có thể kết luận rằng xu hướng chung của thế giới sẽ là thứ TAPL rõ ràng và gần với tiếng Anh hiện đại. 

Nhân đây xin nói về 2 lối tư duy mà tôi hay gặp ở một số luật sư Việt Nam. Thứ nhất là xu hướng “đánh giá cao” văn bản pháp lý chứa nhiều “legalese”. Có lẽ vì họ thấy nó văn phong “luật sư tây” nên thích chứ không biết rằng chính người Mỹ đang cố bỏ nó đi. Nhưng nguy hiểm hơn cả là sử dụng một thứ mà bản thân mình “thích” nhưng “không hiểu rõ”. Thực tế tôi đã gặp luật sư dù không nắm chắc được các điều khoản trong form mẫu (down free trên mạng) nhưng vẫn đòi sử dụng cho 1 giao dịch đơn giản (điều chỉnh bởi luật Việt Nam) mà chỉ cần 1 mặt giấy là đủ. Lý do có lẽ vì luật sư này thấy form trên mạng chi tiết đầy đủ đến 4 trang tiếng Anh và có nhiều “legalese”! Nhưng ai đọc hiểu được sẽ nhận thấy điều khoản trong form đó cho một cơ cấu giao dịch khác (của common law) mặc dù tiêu đề form giống như tên của loại giao dịch theo luật Việt Nam. Thứ hai là lối nghĩ mà tôi cũng hay nghe nhiều người nói (nhất là khi tranh cãi về luật Việt Nam), đó là tiếng Việt đa nghĩa, thế này, thế nọ nên khó khăn khi soạn thảo luật lệ, hợp đồng (so với tiếng Anh hoặc ngoại ngữ khác). Có lẽ do họ chưa tiếp xúc hoặc hiểu được sự phức tạp của các ngoại ngữ khác. Thật sự sẽ có những câu bạn diễn đạt bằng tiếng Việt dễ hơn tiếng Anh và ngược lại. Xin đừng đổ lỗi cho tiếng Việt mà hãy nghĩ lại khả năng sử dụng/soạn thảo tiếng Việt của chính mình. Tôi rất hy vọng các bạn (nhất là các bạn trẻ) đọc bài này sẽ không bị vướng vào hai lối tư duy trên. Tuy vậy cũng xin nhắc các bạn trẻ là tùy môi trường, hãy xem xét mọi người xung quanh bạn có phong cách soạn thảo văn bản thế nào. Trừ khi bạn là sếp, để an toàn, bạn nên thích ứng với văn phong chung của tổ chức thay vì đòi hỏi mọi người xung quanh thay đổi. 

✎Tiếng Anh của người Việt Nam đang tốt lên

Ngày xưa thiếu thốn lắm, không có nhiều sách vở, internet, trung tâm ngoại ngữ hay tây xung quanh để rèn ngoại ngữ nhiều như các thế hệ bây giờ đâu. Bây giờ các trường ĐH ngành luật trong nước cũng chú trọng đào tạo ngoại ngữ hơn, có nhiều bạn còn đi du học nữa. Chính vì vậy, cũng dễ hiểu khi thấy mặt bằng tiếng Anh của các bạn thế hệ sau thường tốt hơn thế hệ trước. Đặc biệt là kỹ năng nghe-nói. Bản thân tôi đã nghe luật sư được xếp hàng “tier 1” trong legal 500 tranh tụng tiếng Anh thế nào. Và may mắn hơn khi tôi được chứng kiến một bạn trẻ (cá nhân tôi đánh giá là rất xuất sắc, đời đầu 9x thì phải) tranh luận tiếng Anh tại phiên tòa giả định mà chủ tọa là bà Ginsburg – Thẩm phán Tòa Tối cao Mỹ. Xét riêng về khả năng tranh luận tiếng Anh, thành thật mà nói là bạn trẻ đó ở một tầm cao hơn thấy rõ. Đó là một tín hiệu lạc quan về sự phát triển kỹ năng ngoại ngữ của giới luật sư Việt Nam. 
Mặt bằng tiếng Anh trung bình của các thế hệ sau tốt hơn trong khi legalese đang dần được loại bỏ, vì vậy có thể nói rằng TAPL đang trở nên dễ hơn với người Việt Nam. Các bạn trẻ, hãy nhớ bạn đang có nhiều thuận lợi hơn khi tiếp cận tiếng Anh chuyên ngành luật, hãy tận dụng tốt điều kiện của mình./.

LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP CHO LUẬT SƯ: Khác biệt giữa làm việc tại HÃNG LUẬT và PHÁP CHẾ? (Phần 2/2)

Tác giả: Luật sư Trịnh Ngọc Tuấn
Facebook: The skilled lawyers - Kỹ năng luật sưhttps://www.facebook.com/theskilledlawyers/   

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

(Những bạn nào đã đọc phần 1 có thể đọc tiếp trên post này, những bạn nào chưa đọc có thể xem phần 1 tại: https://caselaw.vn/phap-che/lua-chon-nghe-nghiep-cho-luat-su-khac-biet-giua-lam-viec-tai-hang-luat-va-phap-che-phan-1)

6. THĂNG TIẾN

Trong hãng luật sẽ có nhiều thứ bậc để thăng tiến: trợ lý luật sư (paralegal/legal assistant), luật sư cấp dưới (junior associate), luật sư (associate), luật sư cấp cao (senior associate), luật sư thành viên (partner), luật sư điều hành (managing partner)…Bên cạnh đó con đường cấp bậc cũng khá hấp dẫn nếu bạn thể hiện tốt bởi đó là môi trường dễ dàng hơn để đo đếm được hiệu quả kinh tế bạn mang lại cho văn phòng. 

Phần lớn các phòng pháp chế thường được cấu trúc thành hai loại vị trí, điều hành và nhân viên. Bạn hiểu việc thăng tiến sẽ như thế nào rồi chứ. Đừng nhầm lẫn rằng tôi nói bạn sẽ không có cơ hội để được thăng tiến, tôi chỉ muốn nói là nó ít hơn so với trong hãng luật. Về cơ bản, đó là một cái thang ít bậc. Và môi trường pháp chế cũng khó đong đếm hiệu quả của từng nhân viên hơn.

7. CHUYỂN ĐỔI MÔI TRƯỜNG

Việc một luật sư tại hãng luật chưa hề có kinh nghiệm pháp chế chuyển sang làm tại ban pháp chế sẽ dễ dàng hơn nhiều so với điều ngược lại. Tại sao? Lý do như đã nói đến ở trên, giờ làm việc, phong cách làm việc, chuyên môn…v.v. Tổng quát lại thì những kinh nghiệm có được tại hãng luật có thể áp dụng khi chuyển sang môi trường pháp chế một cách dễ dàng hơn. Điều này không có nghĩa là bạn không thể vào một hãng luật sau một thời gian dài chỉ làm pháp chế. Nó chỉ có nghĩa là bạn sẽ gặp nhiều khó khăn để chứng tỏ sự xứng đáng của mình với nhà tuyển dụng của hãng luật, những người thường sẽ ưu tiên cho các ứng viên có kinh nghiệm làm việc tại hãng luật tương tự.

8. DANH TIẾNG

Bạn thường nhìn thấy tên ai trên truyền thông, báo chí, bảng xếp hạng các luật sư như Legal 500, chambers and partners, Asia law, who is who legal, hay IRFL 1000 …v.v Đúng vậy, đó là các luật sư tại các hãng dẫn đầu và những luật sư có văn phòng riêng. Vậy, có phải vì những luật sư đó có chuyên môn vượt trội so với những đồng nghiệp làm pháp chế? Không, họ là những luật sư hàng đầu nhưng bạn không nên tự động nghĩ rằng chuyên môn của họ tốt hơn tất cả những luật sư pháp chế nội bộ khác. Nếu họ nhận vị trí của một TBPC, họ sẽ vấn gặp rất nhiều khó khăn như họ chưa từng gặp. 

Một điều đương nhiên, một hãng luật, văn phòng luật vẫn là một công ty, một thực thể kinh doanh. Nó cũng cần phải marketing, quảng cáo như tất cả các loại công ty khác. Chắc bạn hiểu tầm quan trọng của marketing trong thời đại này rồi. Như một điều tất yếu, khi một hãng luật xây dựng danh tiếng, các luật sư của họ sẽ có nhiều cơ hội hơn để xuất hiện trên tạp chí, truyền thông và danh sách bảng xếp hạng luật sư. 

Trong khi đó, các công ty mong muốn luật sư nội bộ chỉ làm việc cho riêng mình. Hãy tưởng tượng bạn sở hữu một công ty và có luật sư riêng, bạn sẽ mong muốn luật sư đó dành toàn bộ thời gian và nỗ lực để phục vụ công ty của bạn hay luật sư đó vẫn cung cấp dịch vụ cho những người khác, đó là còn chưa tính đến tư vấn cho các đối thủ kinh doanh của bạn? Rất nhiều công việc TBPC sẽ gắn với một hạn chế công việc kinh doanh riêng. Đúng vậy, đối với TBPC (mức độ cao nhất của luật sư nội bộ), họ ít khi xuất hiện trên tạp chí hay bảng xếp hạng các luật sư. 

Vì vậy, nếu bạn muốn trở thành luật sư “có tiếng”, làm việc trong hãng luật sẽ tốt hơn cho bạn. Nếu bạn làm việc trong phòng pháp chế, đừng ngây ngô nghĩ rằng nếu bạn sở hữu vốn kiến thức uyên bác và kỹ năng xuất sắc thì cộng đồng sẽ tự động biết đến bạn. Bạn phải bước ra sân khấu và thể hiện cho mọi người xung quang bạn khá như thế nào. Khi bạn làm cho một hãng luật, khách hàng và các hãng luật khác sẽ là khán giả cho sân khấu đó, và nếu bạn làm tốt, sẽ có nhiều người biết đến bạn hơn.

9. PARTNER so với TBPC

Tôi không biết nên dùng từ gì gọn gàng trong tiếng Việt để chỉ “Partner” (có thể dịch là “luật sư thành viên”), vì vậy nên xin giữ nguyên từ này cho nó gọn. Một partner tức là một luật sư có vốn sở hữu trong hãng luật. Thường thường thì một hãng luật sẽ có nhiều partner. 

Nếu bạn vẫn đọc phần này thì xin cảm ơn sự kiên nhẫn của bạn! Và tôi đoán rằng bạn có thể là một người tham vọng hoặc khá tò mò…Thành thật mà nói, tôi chưa bao giờ trải qua hai vị trí cao nhất này và nó là xa vời. Nhưng tôi đã làm việc rất gần với những người nắm giữ vị trí này nên tôi có thể tiết lộ một số điều mà tôi biết. 

Cả hai đều là những vị trí rất thử thách! Là TBPC có nghĩa là bạn chịu trách nhiệm toàn bộ cho hoạt động của phòng pháp chế và các vấn đề pháp lý. Bạn sẽ phải làm việc rất gần với các lãnh đạo công ty và chịu sự ảnh hưởng bởi phong cách của họ. Nếu sếp của bạn làm việc ngày đêm thì bạn cũng phải sẵn sàng ngày đêm. Cho dù bạn có là một luật sư xuất sắc thì một điều kiện tiên quyết để bạn có thể gắn bó và trụ được lâu dài như một TBPC đó là bạn phải rất “hợp” với phong cách của lãnh đạo công ty. 

Nói về việc làm partner. Ok, bạn bắt đầu là một trợ lý luật sư, bạn làm tốt và tiến bộ, bạn trở thành một luật sư cấp cao thành công và gắn bó lâu dài với hãng luật. Tiếp theo thế nào? Hãng luật sẽ đề xuất bạn trở thành partner để ghi nhận những cống hiến của bạn. Vâng, trở thành một partner, nhiều quyền lực hơn khiến cuộc sống trở nên dễ dàng… Đó là một phần thôi, thực tế khác như vậy. Đây là một điều đã từng làm tôi rất ngạc nhiên: tôi biết và đã nghe về một số tình huống mà các luật sư Việt Nam/hay cả luật sư nước ngoài của các công ty luật nước ngoài từ chối với đề nghị trở thành partner của hãng luật mà mình đang làm việc. Vâng, đó là sự thật. Tại sao? Đề nghị trở thành partner thường gắn với điều kiện về mua phần vốn kèm theo các cam kết hiệu quả khác, điều này dẫn đến sự sụt giảm về thu nhập trong giai đoạn đầu. Ngoài ra, trở thành partner, bạn không còn đơn thuần chỉ là một luật sư nữa, bạn là một doanh nhân điều hành dịch vụ pháp lý. Đó không chỉ đơn giản là một món quà mà còn là một thử thách. 

Công việc thử thách gắn liền với phần thưởng xứng đáng. Một anh bạn luật sư của tôi từng tiết lộ anh nhận được đề nghị làm luật sư nội bộ với mức lương tháng 10K USD từ một tập đoàn trong nước! Một con số thật lớn, và đó là con số lớn nhất tôi được biết cho vị trí luật sư nội bộ. Con số trung bình thấp hơn nhiều, bạn có thể lên Vietnamwork để kiểm tra. Tôi không biết các partner thu nhập bao nhiêu nhưng tôi đoán rằng partner sẽ thu được nhiều hơn. Bạn có thể xem mục 2 - Lương để biết cách tìm hiểu so sánh lương. Ngoài khoản lương ra, partner sẽ có cổ tức/lợi nhuận từ hãng luật nhưng TBPC cũng có thể nhận thưởng và cổ phiếu thưởng từ công ty của họ, điều này làm khoảng cách nhỏ lại. 

Hy vọng qua bài này bạn sẽ có được một cái nhìn nhất định về sự khác biệt giữa hai môi trường phổ biến của nghề luật sư hiện nay. Không có lựa chọn nào là hoàn hảo, tuy nhiên sẽ luôn có cái phù hợp hơn cho một mục tiêu nào đó của bạn.

Chúc may mắn!

Các quốc gia được hưởng thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt từ Hiệp định EVFTA khi nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam

Kể từ ngày 01/08/2020 - ngày Hiệp định EVFTA có hiệu lực thi hành, hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia sau đây sẽ được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo Hiệp định EVFTA nếu đủ điều kiện: 

Tên tiếng Anh: Andorra; Austria; Belgium; Bulgaria; Croatia (Hrvatska); Cyprus; Czech Republic; Denmark; Estonia; Finland; France; Germany; Greece; Hungary; Ireland; Italy; Latvia; Lithuania; Luxembourg; Malta; Netherlands; Poland; Portugal; Romania; San Marino; Slovakia (Slovak Rep.); Slovenia; Spain; Sweden; United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland.

Tên tiếng Việt (phiên âm): Công Quốc An-đô-ra; Áo; Bỉ; Bun-ga-ri; Crô-a-ti-a; Sip; Séc; Đan Mạch; Exờ-tô-nia; Phần Lan; Pháp; Đức; Hy Lạp; Hung-ga-ri; Cộng hòa Ireland; Ý; Lát-vi-a; Lít-va; Lúc-xăm-bua; Man-ta; Hà Lan; Ba Lan; Bồ Đào Nha; Ru-ma-ni; Cộng hòa San Ma-ri-nô; Slô-va-kia; Slô-ve-nia; Tây Ban Nha; Thụy Điển; Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len.


(EVFTA) File Excel Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam theo Nghị định 111/2020/NĐ-CP để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu giai đoạn 2020 - 2022

(EVFTA) Tải file excel File Excel Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam theo Nghị định 111/2020/NĐ-CP để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu giai đoạn 2020 - 2022 tại đây.

Kính chào Quý khách hàng,

Caselaw Việt Nam trân trọng giới thiệu File Excel Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam (Phụ lục 2) theo Nghị định 111/2020/NĐ-CP để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu giai đoạn 2020 - 2022

Link tải file: https://drive.google.com/file/d/1mOV86EEBxIg01OXZ6ia2QIX8TmFx743B/view?usp=sharing

Chúng tôi rất vui khi được đồng hành cùng Quý khách hàng.

Trân trọng,

Caselaw Việt Nam Team


USITC tiến hành rà soát hoàng hôn đối với mặt hàng túi nhựa PE có xuất xứ Trung Quốc, Malaysia và Thái Lan

Với kết quả bỏ phiếu này, Ủy ban sẽ tiến hành rà soát toàn diện để xác định xem liệu việc dỡ bỏ lệnh áp thuế chống bán phá giá nói trên có khả năng dẫn đến việc tiếp tục hoặc tái diễn gây thiệt hại đáng kể trong khoảng thời gian có thể lường trước được hay không.

Theo quy định tại Hiệp định về vòng đàm phán Uruguay, Bộ thương mại Mỹ cần dỡ bỏ lệnh áp thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng, hoặc chấm dứt thỏa thuận đình chỉ sau 5 năm, trừ khi Bộ thương mại hoặc Ủy ban Thương mại Quốc tế xác định rằng việc bãi bỏ quyết định áp thuế hay chấm dứt thỏa thuận đình chỉ có khả năng dẫn đến việc tiếp tục hoặc tái diễn hành động bán phá giá hoặc trợ cấp và gây thiệt hại đáng kể trong một khoảng thời gian có thể lường trước được.

Thông báo của Ủy ban về việc tiến hành rà soát cuối kỳ yêu cầu các bên liên quan cần gửi tới Ủy ban các bản phúc đáp trong đó đánh giá những tác động có thể xảy ra từ việc dỡ bỏ lệnh áp thuế đang được rà soát và cung cấp những thông tin có liên quan khác. Thông thường trong vòng 95 ngày kể từ ngày khởi xướng, Ủy ban sẽ xác định liệu bản phúc đáp mà cơ quan này nhận được thể hiện mức độ quan tâm phù hợp hay không đối với đợt rà soát. Trong trường hợp phản hồi quan tâm thích đáng, Ủy ban sẽ tiến hành rà soát toàn diện, trong đó bao gồm thủ tục điều trần công khai và phát hành bảng câu hỏi.

Đối với trường hợp Malaysia, tất cả 6 thành viên của Ủy ban đều nhận thấy phúc đáp của nhóm đối tượng trong nước và nhóm đối chứng là thỏa đáng và đã bỏ phiếu thông qua việc tiến hành rà soát đầy đủ. Đối với trường hợp Trung Quốc và Thái Lan, 6 thành viên Ủy ban nhận thấy mức độ quan tâm của nhóm đối tượng trong nước là phù hợp và nhóm đối chứng là không thỏa đáng, tuy nhiên điều kiện như vậy vẫn đảm bảo cho việc tiến hành rà soát toàn bộ.

Báo cáo kết quả bỏ phiếu của Hội đồng cũng được đăng tải trên trang web của Ủy ban thương mại quốc tế Mỹ: http://info.usitc.gov/oinv/sunset.NSF