CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM

Bạn đang xem

(Dự thảo án lệ số 10 năm 2018 về Hình sự) Về hành vi phạm tội “Không tố giác tội phạm”

Án lệ số /2018/AL về hành vi phạm tội “Không tố giác tội phạm”

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày tháng năm và được công bố theo Quyết định số /QĐ-CA ngày tháng năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 38/2017/HS-GĐT ngày 18-9-2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đã Nẵng về vụ án “Cướp tài sản” đối với bị cáo: Lê Xuân Q, sinh ngày 09-12-1993 tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ 31, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng; Tiền án: Ngày 25-09-2013, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 03 tháng tù về tội “Không tố giác tội phạm”. Tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 30-9-2015.

Ngưòi bị hại: Anh Võ Minh T, sinh năm 1996; trú tại: Thôn N, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Thành H2, sinh năm 1982; trú tại: Tổ 159, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.

+ Bà Phan Thị C, sinh năm 1972; trú tại: Phòng 202 Chung cư F, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.

+ Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm l987; trú tại: Phòng 307; Khu chung cư phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng;

Vị trí nội dung án lệ:

Đoạn 3,4 phần “Nhận định của Tòa án”.

Khái quát nội dung của án lệ:

- Tình huống án lệ:

Bị cáo đang trốn tránh, che giấu hành vi phạm tội mà mình thực hiện cùng bị cáo khác nên không thể đứng ra tố giác hành vi phạm tội khác của bị cáo đó.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Không tố giác tội phạm”.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

Khoản 1 Điều 314 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng với khoản 1 Điều 390 Bộ luật hình sự năm 2015).

Từ khoá của án lệ:

“Không tố giác tội phạm”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Khoảng 22 giờ ngày 19-01-2015, Lê Xuân Q, Trần Xuân L, Nguyễn Văn L1, Trương Sỹ T1, Hà Thị Thu H1 và các đối tượng tên H, P (chưa xác định được nhân lai lịch) đến hát Karaoke tại quán M đường T thuộc tổ 159, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng do anh Nguyễn Thành H2 làm chủ. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, thì P và H1 về trước. Lúc này, Lê Xuân Q, Trần Xuân L, Nguyễn Văn L1, Trương Sỹ T1 và H cũng xuống tính tiền để ra về. Trần Xuân L đưa cho Lê Xuân Q 300.000 đồng, rồi Trương Sỹ T1 đùng xe mô tô biển kiểm soát 43L1-5950 (xe của bà Phan Thị C là mẹ của L) chở L và H về trước, còn Lê Xuân Q và Nguyễn Văn L1 ở lại tính tiền.

Anh Võ Minh T là người được giao quản lý quán, đã kiểm tra và tính tiền hết 408.000 đồng. Lê Xuân Q đưa cho anh T 208.000 đồng cùng 01 chiếc điện thoại Trung Q và nói hôm sau đến thanh toán số tiền còn thiếu 200.000 đồng, để chuộc điện thoại, nhưng anh T không đồng ý. Lúc này, Trương Sỹ T1 điều khiển xe quay lại, thì Lê Xuân Q nói với chủ quán “Thôi để em về lấy tiền” và nói với Trương Sỹ T1, Nguyễn Văn L1 ở lại quán, rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43L1-5950 chạy đi. Lê Xuân Q điều khiển xe đến gặp Trần Xuân L và H, thì nói với L mang điện thoại của L đến quán Karaoke thế chấp cho số tiền còn thiếu, nhưng L không đồng ý. Liền lúc đó, Lê Xuân Q nói vói Trần Xuân L và H quay lại quán Karaoke đuổi đánh nhân viên trong quán để cho Nguyễn Văn L1, Trương Sỹ T1 bỏ chạy và quỵt số tiền 200.000 đồng còn thiếu, thì được Trần Xuân L và H đồng ý (L1, T1 không biết được ý định này của Q, L và H).

Lê Xuân Q chở Trần Xuân L và H đến bụi rậm gần Khu chung cư I thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng và chỉ cho H, L vào lấy 02 cây mã tấu tự tạọ dài khoảng 60 cm do Q cất giữ trước đó. Trần Xuân L và H mỗi người vào lấy 01 cây mã tấu rồi lên xe quay lại quán Karaoke M.

Khoảng 00 giờ ngày 20-01-2015, Lê Xuân Q điều khiển xe đến trước quán Karaoke M rồi dừng lại và ngồi trên xe, còn H và Trần Xuân L cầm theo mã tấu xông vào quán, thấy vậy Nguyễn Văn L1 và Trương Sỹ T1 bỏ chạy về nhà ngủ. Trần Xuân L và H cầm mã tấu rượt đổi anh Đinh Đức T2, Võ Minh T là nhân viên của quán chạy vào nhà vệ sinh, anh Nguyễn Thành H2 chạy lên tầng 2 đóng cửa lại, còn anh Phan Văn T3 là bảo vệ của quán chạy ra ngoài đường trốn. Trần Xuân L đuổi đến quầy tính tiền thì dừng lại và phát hiện 02 máy tính bảng hiệu Hanet màu đen có kích thước 30 x25 cm để trong ngăn tủ kéo, một máy đang trong tình trạng sạc pin. Trần Xuân L đến rút dây sạc pin ra và lấy 02 máy tính bảng giấu trong người rồi đi ra, H cũng đi ra và lên xe do Lê Xuân Q diều khiển tẩu thoát, trên đường đi H và L vứt 02 cây mã tấu ven đường Nguyễn Sinh Sắc (vật chứng không thu hồi được). Khi cả ba đến Chung cư F, Trần Xuân L đưa ra 02 máy tính bảng và nói lấy tại quán Karaoke M, thì Lê Xuân Q đề nghị đem trả lại nhưng L nói “Giờ trả lại sợ công an bắt”, nghe thế Lê Xuân Q nói “Tôi không liên quan” rồi về nhà ngủ. Sáng ngày hôm sau, Lê Xuân Q đem xe trả cho Trần Xuân L rồi bỏ trốn. Khoảng ba, bốn ngày sau, Trần Xuân L bán 02 máy tính bảng nói trên cho một ngưòi đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) được 1.100.000 đồng và tiêu xài hết (02 máy tính này không thu hồi lại được).

Tại kết luận định giá tài sản số 33 ngày 28-5-2015, xác định giá trị còn lại của 02 máy tính bảng hiệu Hanet là 12.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận điều tra số 77/KLĐT ngày 02-11-2015, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đề nghị truy tố Trần Xuân L và Lê Xuân Q về tội “Cướp tài sản” theo khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự.

Tại Cáo trạng số 78/KSĐT ngày 23-11-2015, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng truy tố Trần Xuân L và Lê Xuân Q về tội “Cướp tài sản” theo khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2015/HSST ngày 19-12-2015, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tuyên bố Trần Xuân L và Lê Xuân Q phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 69 và Điều 74 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Xuân L 06 năm tù.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133; khoản 2 Điều 46; điểm g, n khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Xuân Q 07 năm tù.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Ngày 21-12-2015, bị cáo Lê Xuân Q có đơn kháng cáo cho rằng mình không phạm tội “Cướp tài sàn”.

Ngày 22-12-2015, bị cáo Trần Xuân L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 78/2016/HSPT ngày 20-4-2016, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Xuân L và Lê Xuân Q, sửa án sơ thẩm:

Áp dụng đỉểm.d khoản 2 Điều 133; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 69, Điều 74 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Xuân L 05 năm tù về tội “Cưóp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 314; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Xuân Q 03 năm tù về tội “Không tố giác tội phạm ”.

Ngày 07-6-2016, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có Văn bản số 71/BC-VKS-P7, kiến nghị Viện trưởng Viện kiệm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hủy phần hình phạt của Bản án hình sự phúc thẩm số 78/2016/HSPT ngày 20-4-2016 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đối với bị cáo Lê Xuân Q theo hướng tuyên bố Lê Xuân Q phạm tội “Cướp tài sản” quy định tại dỉểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự.

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 26/2017/KN-HS-VC2 ngày 11-4-2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy phần hình phạt đối với bị cáo Lê Xuân Q tại Bản án hình sự phúc thầm số 78/2016/HSPT ngày 20-4-2016 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng và Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2015/HSST ngày 19-12-2015 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu để điều tra lại, với lý do:

Bị cáo Lê Xuân Q, sau khi biết rõ hành vi phạm tội của bị cáo Trần Xuân L là dùng hung khí đuổi đánh các nhân viên quán M, chiếm đoạt 02 máy tính bảng nhưng không tố giác là có dấu hiệu của tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 314 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, hành vi này của bị cáo Q chưa được cấp sơ thẩm khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử nhưng bản án phúc thẩm lại xét xử và tuyên phạt bị cáo Q 03 năm tù về tội “Không tố giác tội phạm” là vi phạm Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự về giới hạn của việc xét xử.

Ngày 27-7-2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có Quyết định số 61/2017/QĐ-VC2 thay đổi Kháng nghị số 26/2017/KN-HS-VC2 ngày 11-4-2017, với nội dung xác định Lê Xuân Q không phạm tội“Không tố giác tội phạm” và đề nghị hủy phần hình phạt đối với Lê Xuân Q tại Bản án hình sự phúc thẩm số 78/2016/HSPT ngày 20-4-2016 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Do không có tiền trả tiền thuê phòng hát Karaoke, nên vào khoảng 00 giờ ngày 20-01-2015, Lê Xuân Q đã rủ Trần Xuân L và đối tượng tên Hứng mang theo 02 mãtấu đến đánh nhân viên của quán Karaoke M nhằm quỵt nợ. Lúc này, Nguyễn Văn L1 và Trương Sỹ T1 là bạn của Lê Xuân Q đang ngồi đợi ở quán, chờ Lê Xuân Q mang tiền đến thanh toán.

[2] Mục đích của Lê Xuân Q và Trần Xuân L mang hung khí quay lại quán Karaoke nhằm giải thoát cho Nguyễn Văn L1 và Trương Sỹ T1 bỏ chạy, để chiếm đoạt số tiền 200.000 đồng. Mặc dù, số tiền này là một khoản nợ đã phát sinh từ trước, nhưng các bị cáo chưa chiếm đoạt được, vẫn để Nguyễn Văn L1 và Trương Sỹ T1 ngồi lại quán làm tin. Các bị cáo đã đuổi đánh nhân viên quán Karaoke, khi những người này sợ bỏ chạy, thì giải thoát được cho L1 và T1 đồng thời chiếm đoạt được số tiền 200.000 đồng. Khi về đến khu Chung cư F, Trần Xuân L đưa ra 02 máy tính bảng lấy tại quán Karaoke, Lê Xuân Q đã nói Trần Xuân L đem trả lại nhưng L nói “Giờ trả lại sợ công an bắt", thì Lê Xuân Q nói “Rứa 02 máy này ta không liên quan "rồi đi về. Sáng hôm sau, Lê Xuân Q đem xe mô tô trả lại cho Trần Xuân L và nói “Trốn đi Công an đang tìm đấy" rồi bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh (bút lục138, 181).

[3] Lê Xuân Q không tham gia, không có ý thức chiếm đoạt 02 máy tính bảng nhưng vì sợ bị xử lý về hành vi rủ H và Trần Xuân L mang mã tấu đến đánh nhân viên quán Karaoke chiếm đoạt số tiền 200.000 đồng, nên Q bỏ trốn. Sau khi sự việc xảy ra, Trần Xuân L bị bắt và đã khai ra những người thực hiện hành vi cùng với mình, đến ngày 30-9-2016 (hơn 08 tháng sau) thì Lê Xuân Q bị bắt. Lúc này, hành vi của Trần Xuân L và Lê Xuân Q đã bị khởi tố điều tra. Về mặt chủ quan, chính Lê Xuân Q cũng đang trốn tránh, che giấu hành vi của mình cùng với Trần Xuân L, nên không thể đứng ra tố giác hành vi của Trần Xuân L, nếu tố giác Trần Xuân L thì lúc đó Lê Xuân Q đã đầu thú và không có việc bỏ trốn, nên không thể cấu thành tội“Không tố giác tội phạm”.

[4] Với những căn cứ trên, Tòa án cấp phúc thẩm xác định hành vi của bị cáo Lê Xuân Q đã phạm tội “Không tố giác tội phạm" và áp dụng khoản 1 Điều 314 Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử đối với bị cáo Lê Xuân Q là không có căn cứ, nên xét thấy cần phải hủy phần tội danh và hình phạt đối với Lê Xuân Q tại Bản án hình sự phúc thẩm số 78/2016/HSPT ngày 20-4-2016 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 3 Điều 285; Điều 287 và Điều 289 Bộ luật tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 78/2016/HSPT ngày 20-4-2016 của Tòa ánnhân dân thành phố Đà Nẵng về phần tội danh và hình phạt đối vói bị cáo Lê Xuân Q để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng để xét xử phúc thẩm lại theo thủ tục chung.

NỘI DUNG ÁN LỆ

[3] Lê Xuân Q không tham gia, không có ý thức chiếm đoạt 02 máy tính bảng nhưng vì sợ bị xử lý về hành vi rủ H và Trần Xuân L mang mã tấu đến đánh nhân viên quán Karaoke chiếm đoạt số tiền 200.000 đồng, nên Q bỏ trốn. Sau khi sự việc xảy ra, Trần Xuân L bị bắt và đã khai ra những người thực hiện hành vi cùng với mình, đến ngày 30-9-2016 (hơn 08 tháng sau) thì Lê Xuân Q bị bắt. Lúc này, hành vi của Trần Xuân L và Lê Xuân Q đã bị khởi tố điều tra. Về mặt chủ quan, chính Lê Xuân Q cũng đang trốn tránh, che giấu hành vi của mình cùng với Trần Xuân L, nên không thể đứng ra tố giác hành vi của Trần Xuân L, nếu tố giác Trần Xuân L thì lúc đó Lê Xuân Q đã đầu thú và không có việc bỏ trốn, nên không thể cấu thành tội “Không tố giác tội phạm”.

[4] Với những căn cứ trên, Tòa án cấp phúc thẩm xác định hành vi của bị cáo Lê Xuân Q đã phạm tội “Không tố giác tội phạm" và áp dụng khoản 1 Điều 314 Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử đối với bị cáo Lê Xuân Q là không có căn cứ, nên xét thấy cần phải hủy phần tội danh và hình phạt đối với Lê Xuân Q tại Bản án hình sự phúc thẩm số 78/2016/HSPT ngày 20-4-2016 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.”

(Nguồn: Tài liệu Hội nghị Sơ kết 03 năm thực hiện công tác phát triển án lệ – TANDTC. Tại TPHCM. 17/9/2018)