CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM

Bạn đang xem

(Dự thảo án lệ số 11 năm 2018 về Hình sự) Về không cho hưởng án treo vì “ảnh hưởng xấu đến môi trường, sinh thái” trong tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ”

Án lệ số /2018/AL về không cho hưởng án treo vì “ảnh hưởng xấu đến môi trường, sinh thái” trong tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ”

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày ….. tháng …năm 2018 và được công bố theo Quyết định số ….QĐ-CA ngày ….tháng….năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 52/2018/HS-GĐT ngày 12 tháng 3 năm 2018 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án hình sự đối với Lê Thị Q và Mai Thị V.

Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 2 phần “Nhận định của Tòa án”

Khái quát nội dung của án lệ:

Tình huống án lệ

Bị cáo mua bán trái phép động vật thuộc danh mục các loài nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ với số lượng lớn, được ưu tiên bảo vệ. Bị cáo bị Tòa án xử phạt 16 tháng tù về “Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ”, mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 nhưng tình hình mua bán, vận chuyển trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ đang gia tăng, có diễn biến phức tạp và các cơ quan bảo vệ pháp luật đang tích cực đấu tranh nhằm bảo vệ môi trường, sinh thái.

Giải pháp pháp lý

Trường hợp này, Tòa án không cho bị cáo hưởng án treo.

Quy định của pháp luật có liên quan

- Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 1999 tương ứng với khoản 1 Điều 234 Bộ luật Hình sự năm 2017;

- Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.

Từ khóa án lệ:

“Mua bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ”; “không được hưởng án treo”, “danh mục loài cấp quý hiếm”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Vào hồi 19 giờ 30 phút, tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Công an Nam Từ Liêm, thành phố H làm nhiệm vụ tại bến xe Mỹ Đình phát hiện ô tô Getz biển kiểm soát 30Y-2269 chở hàng hóa có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra thấy trên xe có chở động vật rùa các loại với số lượng lớn. Trong đó, có loại rùa quý thuộc mặt hàng nhà nước cấm buôn bán, vận chuyển không có hóa đơn chứng từ. Chủ hàng là Mai Thị H và Mai Thị V thuê anh Chu Văn T chở số hàng trên, tổ công tác đã yêu cầu Mai Thị H, Mai Thị V, Chu Văn T cùng toàn bộ tang vật về cơ quan điều tra làm rõ.

Qua đấu tranh khai thác mở rộng: Ngày 21-9-2015, Công an quận Nam Từ Liêm phát hiện đối tượng Lê Thị Q đang trên đường vận chuyển rùa từ Hà Tĩnh ra Hà Nội bán cho Mai Thị V. Cơ quan CSĐT Công an quận Nam Từ Liêm đã yêu cầu Lê Thị Q về trụ sở để làm việc.

Vật chứng thu giữ: 

-Thu giữ của Mai Thị H: 27 cá thể rùa đầu to; 07 cá thể rùa đất Sêpôn;

-Thu giữ của Mai Thị V: 04 cá thể rùa sa nhân; 12 cá thể rùa đầu to; 37 rùa hộp trán vàng miền Trung; 69 cá thể rùa hộp trán vàng miền bắc.

-Thu giữ của Lê Thị Q: 09 cá thể rùa đầu to; 09 cá thể rùa hộp trán vàng miền bắc; 04 cá thể rùa hộp trán váng miền trung; 56 cá thể rùa sa nhân; 02 cá thể rùa núi viền; 20 cá thể rùa đất Sêpôn; 01 cá thể rắn hổ mang chúa.

Thu giữ của chủ xe Chu Văn T: 01 xe tô tô Huyndai biển kiểm soát 30-2269; 01 đăng ký xe; 01 giấy phép lái xe; 01 bảo hiểm bắt buộc; 01 chứng minh nhân dân đều mang tên Chu Văn T.

Tại Bản kết luận giám định số 875, 876, 877/STTNSV ngày 25-9-2015 củaViện sinh thái và tài nguyên sinh vật Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam kết luận:

- Số cá thể động vật hoang dã của Mai Thị H gồm 27 cá thể rùa đầu to có tên khoa học là Platytemon thuộc nhóm IIB theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30-3-2006 của Chính phủ; 07 cá thể rùa đất Sêpôn có tên khoa học là Cyelemys tephepohenis- là động vật hoang dã thông thường.

-Số cá thể động vật hoang dã của Mai Thị V gồm 04 cá thể rùa sa nhân có tên khoa học là Cuora Mouhoti là động vật hoang dã thông thường; 12 cá thể rùa đầu to có tên khoa học là Playtemon megacephalun thuộc nhóm IIB theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30-3-2006 của Chínhphủ; 37 cá thể rùa hộp trán vàng miền trung có tên khoa học là Coura bourreti là động vật hoang dã thông thường. 69 cá thể rùa hộp trán vàng miền bắc có tên khoa học là Coura galbinifronts thuộc nhóm IB (Danh mục các loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ) phụ lục I của Nghị định 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

- Số cá thể hoang dã của Lê Thị Q gồm 01 cá thể rắn hổ mang chúa có tên khoa hoc là Ophiophogus hannad và 09 cá thể rùa hộp trán vảng miền bắc có tên khoa học Coura galbinifronts đều thuộc nhóm IB (Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên báo vệ) phụ lục I của Nghị định 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

Ngoài ra, 02 cá thể rùa núi viền có tên khoa học là Manouria Impressa; 09 cá thể rùa đầu to có tên khoa học Platytemon megaeephalun thuộc nhóm IIB theo 32/2006/NĐ-CP ngày 30-3-2006 của Chính phủ; 20 cá thể rùa đất Sêpôn có tên khoa học Cyelemys teheponensis; 04 cá thể rùa hộp trán vàng miền trung có tên khoa học là Coura bourreti; 56 cá thể rùa sa nhân có tên khoa học là Coura mouhoti. Tất cả là động vật hoang dã thông thường.

Đối với Mai Thị V: 69 cá thể rùa hộp trán vàng miền bắc có tên khoa học là Coura galbinifronts thuộc nhóm IB (Danh mục các loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ). 

Tại Cơ quan điều tra Mai Thị V khai nhận: Do quen biết với Lê Thị Q nên ngày 19-9-2015, Q có điện thoại cho V nói là có gần 70 con rùa: hộp trán vàng miền bắc thuộc loại quý hiếm muốn bán, V đồng ý mua và bảo Q chở hàng mang đến nhà V tại xã Bạch Hà, huyện Phú Xuyên thành phố H. Khoảng 5 giờ sáng ngày 20-9-2015, Q mang 69 con rùa hộp trán vàng miền Bắc đến nhà bán cho V với giá hơn 50.000.000 đồng. Sau khi hai bên giao dịch xong Q có hẹn với V là ngày 21-9-2015 sẽ mang hàng ra bán tiếp. Sau khi mua 69 con rùa của Q thì V đi mua lẻ thêm một số loại rùa khác để mang đi Quảng Ninh bán kiếm lời. Đến 17 giờ 40 phút ngày 20-9-2015, V gọi điện thoại cho Chu Văn T là lái xe chở hàng cùng với chị gái là Mai Thị H đến bến xe Mỹ Đình để đi Quảng Ninh bán, hàng hóa của V là gì thì H không biết vì không thấy V trao đổi bàn bạc gì. Đến 18 giờ 30 phút khi xe ô tô của Chu Văn T đỗ tại bến xe Mỹ Đình thì tổ công tác của Công an quận Nam Từ Liêm kiểm tra: Trong vali màu xám và 02 túi xách đen của Mai Thị V có: 04 cá thể rùa sa nhân trọng lượng là l,96kg; 12 cá thể rùa đầu to là 5,52 kg; 37 cá thể rùa hộp trán vàng miền trung 25,16 kg; 69 cá thể rùa hộp trán vàng miền bắc. Tại Cơ quan điều tra Mai Thị V đã khai nhận hành vi của mình như nội dung trên.

Mai Thị H khai nhận: Hồi 18 giờ ngày 20-9-2015, H cùng em gái là Mai Thị V thuê xe ô tô của Chu Văn T chở hàng đến bến xe Mỹ Đình gồm: 27 cá thể rùa đầu to có trọng lượng 12,48kg; 07 cá thể rùa đất Sêpôn trọng lượng 4kg không có hóa đơn số lượng hàng hóa mang theo H và V không có sự bàn bạc nên cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với H mà chỉ xử lý hành chính. !

Lê Thị Q khai nhận: Do quen biết với Mai Thị V từ năm 2013 nên ngày 19-9-2015 đã gọi điện thoại cho V nói có số lượng rùa muốn tiêu thụ. Hai bên nhất trí và sáng ngày 20-9-2015 Q đã bán cho V 69 cá thể rùa hộp trán vàng miền bắc với giá hơn 50.000.000 đồng và hẹn đến ngày 21-9-2015 sẽ tiếp tục bán cho V. Ngày 21-9-2015, Q bán cho V 09 cá thể rùa hộp trán vàng miền bắc; 01 cá thể rắn hổ mang chúa trọng lượng 1,5 kg; 02 cá thể rùa núi viền là lkg; 09 cá thể rùa đầu to 4,14 kg; 20 cá thể rùa đất Sêpôn là 11 kg; 04 cá thể hộp trán vàng miền trung 2,841kg; 56 cá thể rùa sa nhân là 27,54kg mang ra Hà Nội tiêu thụ thì bị bắt giữ. Tại Cơ quan điều tra Q khai nhận đi thu mua lẻ ở các tỉnh.

Chu Văn T được thuê chở hàng nhưng không biết về nguồn gốc hàng hóa nên Cơ quan điều tra xử phạt hành chính.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 116/2016/HSST ngày 24-5-2016, Tòa án nhân quận Nam Từ Liêm áp dụng khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự; áp dụng Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT/BN&PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 08-3-2007; Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ; các điểm g, p và h khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Thị Q 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 tháng; xử phạt Mai Thị V 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 tháng đều về tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ”. Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không bị kháng cáo và không bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nên có hiệu lực pháp luật. 

Tại Quyết định số 171/KN-HS ngày 12-6-2017, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội kháng nghị Bản án hỉnh sự sơ thẩm số 116/2016/HSST ngày 24-5-2016 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm. Đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm hủy phần quyết định về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên đối với Lê Thị Q và Mai Thị V để xét xử lại theo hướng không cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nhất trí với Kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Khoảng từ ngày 20-9-2015 đến ngày 21-9-2015, Lê Thị Q đã có hành vi mua bán trái phép 78 cá thể rùa hộp trán vàng miền bắc có tên khoa học Cuora galbimfronts thuộc nhóm IB (Danh mục loài nguy cấp, quy, hiếm được ưu tiên bảo vệ), 01 cá thể rắn hổ mang chúa có tên khoa học Ophiophpus Hannah thuộc nhóm IB (Danh mục loài nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ). Mai Thị V có hành vi mua bán trái phép 69 cá thể Rùa hộp trán vàng miền bắc có tên khoa học Cuora galbinifronts thuộc nhóm IB (Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ). Tất cả số cá thể rùa và rắn nêu trên đều thuộc phụ lục IB danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ. Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án Lê Thị Q và Mai Thị V đều về tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ” là có căn cứ.

[2] Các bị cáo Q và V đã có hành vi mua bán trái phép động vật thuộc danh mục các loài nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ với số lượng lớn, đều thuộc phụ lục IB danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến việc bảo vệ môi trường sinh thái. Các bị cáo phạm tội thuộc khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Lê Thị Q 16 tháng tù; Mai Thị V 14 tháng tù nhưng cho các bị cáo hưởng án treo là chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm, hành vi phạm tội của bị cáo; không đáp ứng được công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và loại tội này nói riêng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 382; khoản 3 Điều 388; Điều 391 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

1.Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 116/2016/HSST ngày 24-5-2016 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội về phần trách nhiệm hình sự đối với Lê Thị Q và Mai Thị V. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

2.Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không bị kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật./.

NỘI DUNG ÁN LỆ:

“[2]Các bị cáo Q và V đã có hành vi mua bán trái phép động vật thuộc danh mục các loài nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ với số lượng lớn, đều thuộc phụ lục IB danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến việc bảo vệ môi trường sinh thái. Các bị cáo phạm tội thuộc khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Lê Thị Q 16 tháng tù; Mai Thị V 14 tháng tù nhưng cho các bị cáo hưởng án treo là chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm, hành vi phạm tội của bị cáo; không đáp ứng được công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và loại tội này nói riêng”.

(Nguồn: Tài liệu Hội nghị Sơ kết 03 năm thực hiện công tác phát triển án lệ – TANDTC. Tại TPHCM. 17/9/2018)