CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM

Bạn đang xem

01/2014/DS-ST: Di chúc không có hiệu lực vì di sản để lại không còn tại thời điểm lập di chúc

Link bản án: http://caselaw.vn/ban-an/4CFdgRIoQY

Tác giả: N.T.T.Đ

Ngày 27/7/1994, bà Lý Thị Mị đã lập di chúc để chia phần diện tích đất 2.309,5m2 thành 05 phần bằng nhau cho 05 người con, gồm: (1) Ông Nguyễn Văn Long, (2) ông Nguyễn Văn Thuần, (3) Nguyễn Văn Tính, (4) Nguyễn Tiến Lúc và (5) Nguyễn Thị Mỹ Linh mỗi người được hưởng 461,9m2 đất. Trước đó, diện tích đất 2.309,5 m2 này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần lượt vào các năm 1989 và 1999 (cấp lại). Đến năm 2001, bà Lý Thị Mị đã chuyển nhượng một phần diện tích đất cho 3 người khác và cả 3 người này đều đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Mặc dù tờ di chúc bà Mị lập ngày 27/7/1994 là hợp pháp nhưng Tòa cho rằng: Đến thời điểm bà Mị chết ngày 21/10/2011 thì di chúc này không có hiệu lực pháp luật bởi lẽ tại thời điểm này, các tài sản bà Mị định đoạt trong di chúc không còn theo Khoản 3, Điều 667 của Bộ Luật Dân sự 2005.

Theo khoản 3 Điều 667 Bộ luật dân sự 2005: “Di chúc không có hiệu lực pháp luật, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.” Hay theo Khoản 3 Điều 643 Bộ luật dân sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017): “Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

Với cụm từ “di sản để lại cho người thừa kế không còn”, chúng ta có thể hiểu bằng nhiều cách khác nhau, trong đó thường thì có 2 trường hợp:

1) Sự tồn tại thực tế: Đây là trường hợp áp dụng đối với các loại tài sản không đăng ký quyền sở hữu. Tại thời điểm chia thừa kế, tài sản đó đã bị tiêu hủy hoặc không còn tồn tại trên thực tế hay trong nằm trong sở hữu của chủ thể lập di chúc. Ngoài ra trong một số trường hợp thì tài sản phải đăng ký quyền sở hữu cũng có thể không còn tồn tại trên thực tế như nhà bị phá hủy hay đất bị sạc lở làm giảm diện tích...

2) Pháp lý: Còn đây là trường hợp áp dụng cho loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu. Tại thời điểm chia thừa kế, tài sản đó đã được định đoạt bằng những giao dịch tiếp sau thời điểm lập di chúc một cách hợp pháp. Thấy rằng, về mặt nguyên tắc tuy di chúc là thể hiện sự định đoạt của người đã mất nhưng chỉ là tại một thời điểm nhất định. Sau thời điểm ấy, có thể chủ thể lập di chúc lại có một sự thể hiện định đoạt khác làm mất đi hiệu lực trước đó có di chúc.

Trong vụ án bà Mị,Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên di chúc không còn hiệu lực dựa vào những yếu tố như: Việc định đoạt tài sản sau khi lập di chúc là hợp pháp, quy trình thủ tục đăng ký Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến việc định đoạt tài sản này được các chủ thể thực hiện theo luật định và từ đó đi đến kết luận rằng di sản thừa kế không còn. Tuy nhiên, đây mới chỉ là phiên Tòa sơ thẩm, vẫn có những vấn đề cần đặt ra cần được làm rõ:

-  Nếu hợp đồng viết tay của bà Mị bị tuyên vô hiệu thì việc phân chia di chúc sẽ như thế nào?

-  Nếu quy trình thủ tục chuyển quyền sử dụng đất không theo thủ tục luật thì phân chia di chúc sẽ như thế nào?

Từ đó chúng ta thấy rằng tuy vụ án đã có một hướng giải quyết những có lẽ với sự đa dạng trong thực tế vẫn còn những kẻ hở và cách áp dụng pháp luật mà ở đó việc có hay không có hiệu lực di chúc là một câu chuyện không hề đơn giản.