CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM

Bạn đang xem

126/2015/HNGĐ-PT: Tranh chấp ly hôn với người nước ngoài – cấp Sơ thẩm cho ly hôn, cấp Phúc thẩm thì không

Xem đầy đủ nội dung tại: http://caselaw.vn/ban-an/80kzzKF0cO

  • Cơ quan xét xử: TAND cấp tỉnh
  • Số hiệu: 126/2015/HNGĐ-PT
  • Ngày tuyên án: 26-01-2015
  • Số hiệu bản án bị Phúc thẩm: 29/2014/HNGĐ-ST
  • Ngày tuyên án bị Phúc thẩm: 29/09/2013
-----------------------------------------------------------------------------------------

Mô tả tóm lược:

Bà NĐ_Lan và ông BĐ_Ng Eng Wan đăng ký kết hôn năm 2006 tại Thái Lan, sau đó đã thực hiện thủ tục ghi chú kết hôn và được Sở tư pháp Thành phố HN cấp giấy xác nhận về việc đã ghi chú vào sổ các việc hộ tịch đã đăng ký trước các cơ quan nước ngoài năm 2008.

Theo bà NĐ_Lan, do không tìm hiểu kỹ trước khi kết hôn với ông BĐ_Ng Eng Wan, trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống. Đến tháng 03/2013 mâu thuẫn phát sinh trầm trọng, bà NĐ_Lan xin được ly hôn với ông BĐ_Ng Eng Wan.

  • Về con chung: Bà NĐ_Lan yêu cầu được nuôi cả 02 con chung và yêu cầu ông BĐ_Ng Eng Wan có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi trẻ 25.000.000đồng/tháng.
  • Về tài sản chung: Bà NĐ_Lan và ông BĐ_Ng Eng Wan tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Không có.

Ý kiến của Bị đơn: Không đồng ý ly hôn

Theo ông, giữa hai bên không có mâu thuẫn nào trầm trọng, những mâu thuẫn phát sinh là bình thường, có thể giải quyết được. Ông xác định hiện nay ông còn rất yêu thương bà NĐ_Lan và các con, mong muốn các bên hãy tha thứ cho nhau. Ông sẽ rất đau lòng khi các con của ông bà thiếu đi tình cảm của cha hoặc mẹ. Mặc dù hiện tại bà NĐ_Lan không yêu ông nhưng trong tương lai có thể bà NĐ_Lan sẽ suy nghĩ lại.

  • Về con chung: Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn, ông BĐ_Ng Eng Wan yêu cầu được nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu phía bà NĐ_Lan phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Nếu Tòa án giao con chung cho bà NĐ_Lan nuôi thì ông không đồng ý với mức cấp dưỡng mỗi tháng 25.000.000đồng/trẻ.
  • Về tài sản chung: Ông và bà NĐ_Lan sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Không có.

Phán quyết của Tòa sơ thẩm: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn – bà NĐ_Bùi Thị Hoa Lan:

  • Về quan hệ hôn nhân: Bà NĐ_Bùi Thị Hoa Lan được ly hôn với ông BĐ_Ng Eng Wan.
  • Về việc nuôi con: Giao 02 con chung cho bà NĐ_Bùi Thị Hoa Lan nuôi dưỡng.
  • Về việc cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông BĐ_Ng Eng Wan có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000đồng/trẻ cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi. Ông BĐ_Ng Eng Wan được quyền đến thăm, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung. Khi cần thiết, một trong các bên hoặc cả hai bên đều có quyền xin thay đổi người nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

Ngày 13 tháng 10 năm 2014, bị đơn – ông BĐ_Ng Eng Wan có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm nêu trên. Cụ thể: Vợ chồng ông không có mâu thuẫn mà chỉ có những bất đồng trong cách nuôi dạy con cái, ông đã và đang cố gắng hết sức điều chỉnh bản thân để thỏa hiệp với vợ. Hiện tại vợ chồng vẫn còn chung sống một nhà, vẫn còn sinh hoạt chung, đi làm chung, cùng đưa các con đi học. Chứng cứ chứng minh là những hình ảnh gia đình ông đi du lịch chung ở ĐL ngày 07/01/2015. Nếu Tòa án cho ly hôn, ông yêu cầu được nuôi cả 02 con chung, không yêu cầu bà NĐ_Lan cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp giao con cho bà NĐ_Lan nuôi, ông cấp dưỡng nuôi con 10.000.000đồng/trẻ/tháng. Về tài sản chung, hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phán quyết của Tòa phúc thẩm: Sửa án sơ thẩm số. Không chấp nhận yêu cầu của bà NĐ_Bùi Thị Hoa Lan về việc ly hôn với ông BĐ_Ng Eng Wan.

Lập luận:

1. Sự bất đồng về quan điểm là điều không thể tránh khỏi:

  • Bà NĐ_Lan và ông BĐ_Ng Eng Wan có quốc tịch khác nhau, thụ hưởng các nền văn hóa khác nhau nên khi chung sống xảy ra những bất đồng quan điểm là điều không thể tránh khỏi. Bà NĐ_Lan biết điều đó nhưng chấp nhận tiến tới hôn nhân với ông BĐ_Ng Eng Wan và cùng nhau có 02 con chung.
  • Bà NĐ_Lan trình bày mâu thuẫn phát sinh từ năm 2008 nhưng căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ và lời khai của hai bên thì vào năm 2011, bà tiếp tục sinh đứa con thứ hai. Điều này cho thấy hai bên cũng đã tự điều chỉnh để hòa hợp với nhau trong cuộc sống chung và duy trì hôn nhân dù có xảy ra bất đồng. Hiện hai bên vẫn đang chung sống một nhà, cùng sinh hoạt gia đình, cùng đi làm chung, đi du lịch chung và cùng chăm sóc nuôi dạy con chung. Điều này cũng được bà NĐ_Lan thừa nhận, bà NĐ_Lan xác nhận gần đây nhất ngày 07/01/2015 vợ chồng có cùng hai con đi du lịch tại ĐL.

2. Chồng vẫn còn tình cảm với vợ:

  • Ông BĐ_Ng Eng Wan có thái độ rất tích cực trong việc khắc phục bản thân để hòa hợp cuộc sống chung vì ông còn thương vợ con, coi trọng gia đình, thể hiện việc ông chấp nhận từ bỏ công việc ở nước ngoài về làm việc tại Thành phố HCM để có nhiều thời gian giành cho vợ con hơn. Xét thấy, những bất đồng quan điểm giữa hai bên chỉ là những ý kiến khác nhau về việc chọn trường học tốt cho con và cách nuôi dạy con. Tất cả những điều đó xuất phát từ tình yêu thương con và quyền lợi của con của bà NĐ_Lan và ông BĐ_Ng Eng Wan nên được Hội đồng xét xử ghi nhận. Trước phiên tòa, ông BĐ_Ng Eng Wan rất có thiện chí khắc phục bất đồng, ông cho rằng đã và đang điều chỉnh bản thân để thỏa hiệp với vợ, giành nhiều thời gian cho vợ con hơn, đồng ý chấp nhận ý kiến của vợ đưa ra.

3. Chưa phải là mẫu thuẫn trầm trọng:

  • Giữa đôi bên có những bất đồng trong cách nuôi dạy con cái nhưng chưa phải là mâu thuẫn trầm trọng phải ly hôn. Chỉ là những bất đồng nhỏ thuộc về sinh hoạt, không ảnh hưởng đến mục đích hôn nhân. Do đó cần tạo điều kiện cho đôi bên có thời gian điều chỉnh bất hòa để đoàn tụ hàn gắn. Hơn nữa, đôi bên còn có 02 con còn rất nhỏ, rất cần sự quan tâm chăm sóc của cha và mẹ. 

Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông BĐ_Ng Eng Wan, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.