CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM

Bạn đang xem

(Dự thảo án lệ số 03 năm 2018 về Hình sự) Về không cho hưởng án treo vì “ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” trong tội “Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên”

Án lệ số …./2018/AL về không cho hưởng án treo vì “ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” trong tội “Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên”

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày …. tháng ….. năm 2018 và được công bố theo Quyết định số ……/QĐ-CA ngày …..tháng….. năm ….. của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 01/2014/HS-GĐT ngày 06-01-2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án hình sự “Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên” đối với bị cáo Trần Văn T, sinh năm 1968; trú tại thôn L, xã Y, huyện Đ, tỉnh Q; con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Vũ Thị N; có vợ là Lê Thị S (đã chết) và 02 con; không có tiền án, tiền sự; tại ngoại.

Vị trí nội dung án lệ:

Đoạn 3 phần “Nhận định của Tòa án”.

Khái quát nội dung của án lệ:

- Tình huống án lệ:

Bị cáo bị Tòa án xử phạt 01 năm tù về tội “Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên”, mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 nhưng tình hình tội phạm “Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên” đang gia tăng, có diễn biến phức tạp, chính quyền và các cơ quan bảo vệ pháp luật đang tích cực đấu tranh nhằm bảo vệ tài nguyên của đất nước.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, Tòa án không cho bị cáo hưởng án treo.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

Khoản 1 Điều 172, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (tương đương với khoản 1 Điều 227, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Từ khóa của án lệ:

“Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên”; “Án treo”; “Ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng năm 2006-2007, Trần Văn T mua 01 nhà cấp 4 trên diện tích 960m2 đất của bà Đỗ Thị B. Thửa đất nằm trong ranh giới quản lý tài nguyên của Công ty TNHH một thành viên than M, thuộc vỉa than 9A-CN khu S, xã T, huyện Đ, tỉnh Q.

Đầu năm 2010, thấy có nhiều người tổ chức khai thác than trên phần đất của họ ở bên cạnh nên T cũng thuê một số máy xúc để khai thác than trên phần đất của mình. Từ ngày 16/2/2010, T thuê 01 máy xúc của Nguyên Văn Q để xúc đất đá; đến chiều ngày 17/02/2010 mới lộ được vỉa than. Do ở độ sâu nên một máy không thể đưa than lên được, T đã thuê tiếp 02 máy xúc của Nguyễn Bá N và Nguyễn Văn H để xúc than lên. Cả 03 máy khai thác than đến 05 giờ ngày 18/02/2010 thì không lấy được than nữa. Hố khai thác than có chiều dài khoảng 40m, chiều rộng 20m, chiều sâu khoảng 20m.

Tại kết quả giám định của Trung tâm kỹ thuật trắc địa - địa chất Trường đại học Công nghiệp Q xác định: số lượng than đã khai thác trái phép tại địa điểm trên là 817,709 tấn than nguyên khai bằng 569,039 tấn than sạch, Sở Tài chính tỉnh Q giám định xác định giá trị thiệt hại là 483.683.150 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2012/HSST ngày 28-2-2012, Tòa án nhân dân tỉnh Q áp dụng khoản 1 Điều 172; các điểm p và h khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn T 12 tháng tù về tội “Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên”. Buộc Trần Văn T phải nộp 483.683.150 đồng sung quỹ Nhà nước.

Ngày 01/03/2012, Trần Văn T kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 350/2012/HSPT ngày 28-6-2012, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã áp dụng thêm điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Văn T 12 tháng tù về tội “Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng.

Tại Quyết định kháng nghị số 10/2013/KN-HS ngày 14-6-2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 350/2012/HSPT ngày 28/06/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với Kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Trần Văn T có hành vi tự thuê 03 máy xúc để khai thác than trái phép làm thất thoát tài sản của Nhà nước trị giá 483.683.150 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết án bị cáo về tội “Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên” theo khoản 1 Điều 172 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Khi quyết định về phần hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, hậu quả của vụ án và xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như thành khẩn khai báo, bị cáo không có tiền án tiền sự, có hoàn cảnh khó khăn; ngoài ra, còn áp dụng thêm tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường họp ít nghiêm trọng (áp dụng tình tiết này là không đúng) để xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên” đã là xem xét cho bị cáo..

[3] Quá trình xét xử phúc thẩm, mặc dù có thêm tình tiết mới là bị cáo nộp 200.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước; tuy nhiên, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra là nghiêm trọng. Hiện nay tình hình tội phạm vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên ở một số địa phương đang gia tăng, có diễn biến phức tạp, chính quyền và các cơ quan bảo vệ pháp luật đang tích cực đấu tranh nhằm bảo vệ tài nguyên của đất nước, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại cho bị cáo được hưởng án treo là áp dụng không đúng quy định của Bộ luật hình sự và Hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007; không đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, không đáp ứng yêu cầu răn đe và phục vụ yêu cầu chính tri của địa phương, gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 285, Điều 287 và Điều 289 Bộ luật tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 350/2012/HSPT ngày 28/06/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội về phần trách nhiệm hình sự đối với Trần Văn T; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

NỘI DUNG ÁN LỆ

“[3] Quá trình xét xử phúc thẩm, mặc dù có thêm tình tiết mới là bị cáo nộp 200.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước; tuy nhiên, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra là nghiêm trọng. Hiện nay tình hình tội phạm vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên ở một số địa phương đang gia tăng, có diễn biến phức tạp, chính quyền và các cơ quan bảo vệ pháp luật đang tích cực đấu tranh nhằm bảo vệ tài nguyên của đất nước, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại cho bị cáo được hưởng án treo là áp dụng không đúng quy định của Bộ luật hình sự và Hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007; không đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, không đáp ứng yêu cầu răn đe và phục vụ yêu cầu chính tri của địa phương, gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.”

(Nguồn: Tài liệu Hội nghị Sơ kết 03 năm thực hiện công tác phát triển án lệ – TANDTC. Tại TPHCM. 17/9/2018)