CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM

Bạn đang xem

(Dự thảo án lệ số 02 năm 2018 về Hình sự) Về tình tiết “giết nhiều người”, “có tính chất côn đồ” trong tội “Giết người”

Án lệ số /2018/AL về tình tiết “giết nhiều người”, “có tính chất côn đồ” trong tội “Giết người”

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày tháng năm và được công bố theo Quyết định số /QĐ-CA ngày tháng năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 12/2013/HS-GĐT ngày 16-8-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Giết người” đối với bị cáo: Đỗ Văn T sinh năm 1980; trú tại: đội 1, thôn Đ, xã C, huyện Q, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: làm thuê; tiền án: tại bản án hình sự sơ thẩm số 40/2004/HSST ngày 29/12/2004, Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây (cũ) xử phạt 15 tháng tù về tội: “Chống người thi hành công vụ” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 28/7/2006; tại bản án hình sự phúc thẩm số 740/2009/HSPT ngày 25/9/2009, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 31/8/2010. Bị bắt giam từ ngày 23/12/2011.

Người bị hại:

1.Anh Phan Văn G sinh năm 1960 (đã chết); người đại diện hợp pháp của người bị hại: Chị Đỗ Thị Bích T2 sinh năm 1964; trú tại: số 1/109, khóm I, phường H, thị xã S, tỉnh Đồng Tháp (là vợ của anh G).

2.Anh Nguyễn Chí T1 sinh năm 1987; trú tại: số 61/6 ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (bị thương tích với tỷ lệ thương tật 1%).

3.Anh Đỗ Quốc P sinh năm 1971; trú tại: số 1/109 khóm I, phường H, thị xã S, tỉnh Đồng Tháp (bị thương tích với tỷ lệ thương tật 4,96%).

Vị trí nội dung án lệ:

Đoạn 1 phần “Nhận định của Tòa án”.

Khái quát nội dung của án lệ:

- Tình huống án lệ:

Bị cáo bị đuổi đánh nên sử dụng dao khua khoắng loạn xạ với mục đích ngăn những người khác tiếp cận mình gây tử vong cho một người và gây thương tích cho một người khác; hành vi của bị cáo không xuất phát từ một lý do vô cớ hay vì một mâu thuẫn nhỏ nhặt và không có ý định tước đoạt tính mạng của bị hại.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với tình tiết định khung là “giết nhiều người” và “có tính chất côn đồ”.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

- Điểm a, điểm n và điểm p khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 (tương ứng với điểm a, điểm n và điểm p khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015);

Từ khoá của án lệ:

“Giết người”; “Giết nhiều người”; “Có tính chất côn đồ”; “Các tội xâm phạn tính mạng, sức khỏe”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ngày 9/12/2011, Đỗ Văn T tham gia vụ án “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” tại huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội rồi bỏ trốn vào Miền nam. Ngày 21/12/2011, T từ Cần Thơ đến nhà anh Hoàng Văn B (là người cùng quê với T) ở ấp P, xã T, thị xã S, tỉnh Đồng Tháp. Khi T đến, anh B tổ chức uống rượu, đến khoảng 18 giờ cùng ngày, anh B thuê xe Taxi của anh Nguyễn Chí T1 cho T đến bến xe Sa Đéc để mua vé về bến xe Miền Đông. Trước khi T lên xe, anh T1 đã nhận tiền cước do vợ anh B thanh toán là 60.000 đồng và hứa sẽ giúp T mua vé xe. Khi đến bến xe, anh T1 dẫn T vào mua vé, nhân viên trạm xe “Phương Trang” thấy T say rượu, không bán vé cho T, T bảo anh T1 đưa T đi tìm xe khác và sẽ thanh toán thêm tiền cước cho anh T1, nhưng anh T1 nói “hết xe rồi”. Nghĩ là anh T1 lừa mình, nên giữa T và anh T1 đã cãi, chửi và giằng co, xô xát với nhau. Trong lúc giằng co xô xát, T dùng dao đâm vào cánh tay trái của anh T1 rồi bỏ chạy. Thấy anh T1 mặc đồng phục của lái xe Taxi, trên tay cầm cục đá đang đuổi theo T, cùng lúc này lại có tiếng hô “cướp, cướp”, do đó một số người dân trong khu vực bến xe tưởng T cướp xe Taxi nên đã cầm theo gạch, đá để tham gia vây bắt T. Thấy đông người đuổi theo, T đã lên xe Taxi do anh Hồ Minh L điều khiển (đang dừng trả khách trước cửa bến xe) và yêu cầu anh L cho xe chạy. Thấy vậy, anh T1 chạy đến chặn xe và nói với anh L “đừng chở nó, nó vừa đâm tài xế đấy”. Anh L dừng xe, tắt máy và xuống xe bỏ chạy, T cũng xuống xe và chạy về phía Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Tháp. T chạy được khoảng 26.5 mét thì dừng lại; lúc này, anh T1, anh L và một số người đuổi kịp T và dừng gạch đá ném T. T nhặt 01 đoạn tre để khua khoắng, không cho mọi người xông vào bắt mình. Nhân lúc T không để ý, anh T1 dùng đá đánh mạnh vào đầu T rồi bỏ chạy. Cùng lúc này, một người trong đám đông giật được đoạn tre của T rôi dùng đoạn tre này đánh T. T một tay bịt vết thương trên đầu, một tay dùng dao nhọn có sẵn trong người khua khoắng loạn xạ; anh Phan Văn G và anh Đỗ Quốc P xông vào khống chế T thì anh P bị T dùng dao đâm sượt qua ngực, anh G bị đâm trúng ngực. T đẩy ngã anh P để bỏ chạy, làm cho anh P bị ngã đập lưng vào các mảnh gạch ống vỡ nhọn năm trên đường. T chạy vào nhà trọ của bà Võ Thi Thắm thì được bà Thắm lấy cho chiếc quần cũ để bịt máu trên đầu, sau đó bà Thắm điện thoại báo Công an phường 2, thị xã Sa Đéc đến giải quyêt và đưa T đi cấp cứu. T bị bắt sau hai ngày điều trị vết thương.

Đối với anh Phan Văn G, sau khi bị T đâm vào ngực đã được người nhà đưa đi cấp cứu, nhưng do vết thương quá nặng, nên anh G đã bị chết sau hơn 20 ngày điều trị.

Tại bản kết luận giám định tử thi số 16/12/GĐPY ngày 02/02/2012, Khoa Giải phẫu bệnh - Pháp y thuộc Bệnh viện Chợ Rẫy kết luận: anh Phan Văn G chết do bị đâm thủng tâm thất phải độ dài 1.5cm.

Tại Kết luận giám định pháp y thương tích số 67/KL-PC54 ngày 04/01/2012, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: anh Nguyễn Chí T1 bị thương tích tại cánh tay trái với tỷ lệ thương tật là 01%.

Tại Kết luận giám định pháp y thương tích số 68/KL-PC54 ngày 04/01/2012, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận anh Đỗ Quốc P bị thương tích tại vùng lưng trái gần đốt sống thắt lưng có vết sẹo thẳng mầu nâu đỏ chạy dọc từ trên xuống và ra ngoài, kích thước dài lcm, rộng nhất 0.2cm, được tính tỷ lệ thương tật 04%; cách 5.5cm dưới sau mũi ức bên phải có vết sẹo mầu nâu hình bầu dục kích thước dài 0.5cm, rộng nhất 0.3cm, được tính tỷ lệ thương tật 01%; áp dụng luật cộng lùi và theo Bản quy định tiêu chuẩn thương tật, xác định tỷ lệ thương tật của anh Đỗ Quốc P là 4.96%.

Tại Kết luận giám định pháp y thương tích số 198/KL-PC54 ngày 22/02/2012, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Đỗ Văn T bị thương tích tại vùng đầu với tỷ lệ thương tật là 02%.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 181/GĐPY-TT ngày 28/3/2012 của Trung tâm pháp ỵ tỉnh Đồng Tháp kết luận đối với Đỗ Văn T; về y học: không có bệnh tâm thần; vê pháp luật: đủ năng lực điều khiển hành vi; kết luận chung về năng lực trách nhiệm: không bị bệnh tâm thần, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 38/2012/HSST ngày 30/5/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp áp dụng các điểm a, điểm n và điểm p khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự; xử phạt: Đỗ Văn T tử hình về tội “Giết người”; căn cứ Điều 305, Điều 610 Bộ luật dân sự: ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo cho những người đại diện hợp pháp của người bị hại là chị Đỗ Thị Bích T2, các cháu Phan Thị Hồng L1, Phan Thị Thùy L2 (là con anh G) số tiền 174.221.432 đồng; ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo cho anh Đỗ Quốc P số tiền 1.260.000 đồng.

Ngày 10/6/2012, Đỗ Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 11/6/2012, những người đại diện hợp pháp của người bị hại là chị Đỗ Thị Bích T2, các cháu Phan Thị Hồng L1, Phan Thị Thùy L2 kháng cáo xin giảm hình phạt cho bị cáo.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 754/2012/HSPT ngày 20/8/2012, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Tại Quyết định kháng nghị số 04/2013/HS-TK ngày 03/5/2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 754/2012/HSPT ngày 20/8/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tôi cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Anh Hoàng Văn B là người thuê xe Taxi và vợ anh B là người trả trước tiền cước cho anh Nguyễn Chí T1 để anh T1 đưa Đỗ Văn T đến bến xe tìm xe khách. Do anh T1 nói giờ này vẫn còn xe, nên trước khi lên xe Taxi giữa T và anh T1 có thỏa thuận “anh T1 có trách nhiệm tìm xe khách cho T”. Tại bến xe Sa Đéc anh T1 không tìm được xe khách cho T, nên hai người đã xô xát với nhau, anh T1 bị T dùng dao gây thương tích ở cánh tay trái với tỷ lệ thương tật là 01%, nên anh T1 đã cầm đá đuổi đánh T. Thấy lái xe Taxi bị thương, đang cầm đá đuổi đánh T, có người tưởng T cướp xe Taxi đã hô “cướp, cướp”. Mặc dù, biết T không cướp xe Taxi, nhưng anh T1 vẫn để mặc cho mọi người đuổi theo bắt T. Thấy đông người cầm gạch đá vây xung quanh mình, T đã lấy dao ra để dọa. Anh Phan Văn G và anh Đỗ Quốc P nghe tiếng hô “cướp, cướp” cũng tham gia đuổi đánh và xông vào giằng dao trên tay T. Trong khi anh G, anh P đang giằng co con dao với T, thì anh T1 đi từ phía sau cầm cục đá đập mạnh vào đầu T rồi bỏ chạy. T bị chảy máu ở đầu, nhưng vẫn giật lại được dao, rồi dùng dao khua khoắng loạn xạ làm anh P bị thương tích ở phần ngực (01%); anh G bị đâm vào ngực dẫn đến tử vong. Do T đẩy anh P ngã, nên anh P bị thêm thương tích ở lưng (4%). Như vậy, hành vi nêu trên của Đỗ Văn T không xuất phát từ một lý do vô cớ hay vì một mâu thuẫn nhỏ nhặt nào khác, đồng thời có cơ sở để khẳng định T không có ý thức tước đoạt tính mạng của anh Nguyễn Chí T1 và anh Đỗ Quốc P, do đó Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm a (giết nhiều người) vạ điểm n (có tính chất côn đồ) theo khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là không đúng.

[2] Do Đỗ Văn T đã có 2 tiền án (chưa được xóa án tích) nên khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết án Đỗ Văn T về tội “Giết người” thuộc điểm p (tái phạm nguy hiểm) khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, bị cáo có bố và ông nội là người có công với Cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; bố bị cáo mắc bệnh tâm thần do nhiễm chất độc da cam, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự là thiếu sót. Do vậy, hình phạt tử hình mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là quá nghiêm khắc.

[3] Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không phát hiện ra những sai lầm nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm mà vẫn xác định hành vi phạm tội của Đỗ Văn T thuộc trường hợp “giết nhiều người” và “có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm a và điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự; đồng thời, còn cho rằng đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào và đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của đại diện gia đình người bị hại không có căn cứ để chấp nhận, từ đó giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm là sai lầm nghiêm trọng.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 3 Điều 285; Điều 287 Bộ luật tổ tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH

1.Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 754/2012/HSPT ngày 20/8/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

2.Tiếp tục giam bị cáo Đỗ Văn T cho đến khi Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lại vụ án.

NỘI DUNG ÁN LỆ

“[1] Anh Hoàng Văn B là người thuê xe Taxi và vợ anh B là người trả trước tiền cước cho anh Nguyễn Chí T1 để anh T1 đưa Đỗ Văn T đến bến xe tìm xe khách. Do anh T1 nói giờ này vẫn còn xe, nên trước khi lên xe Taxi giữa T và anh T1 có thỏa thuận “anh T1 có trách nhiệm tìm xe khách cho T”. Tại bến xe Sa Đéc anh T1 không tìm được xe khách cho T, nên hai người đã xô xát với nhau, anh T1 bị T dùng dao gây thương tích ở cánh tay trái với tỷ lệ thương tật là 01%, nên anh T1 đã cầm đá đuổi đánh T. Thấy lái xe Taxi bị thương, đang cầm đá đuổi đánh T, có người tưởng T cướp xe Taxi đã hô “cướp, cướp”. Mặc dù, biết T không cướp xe Taxi, nhưng anh T1 vẫn để mặc cho mọi người đuổi theo bắt T. Thấy đông người cầm gạch đá vây xung quanh mình, T đã lấy dao ra để dọa. Anh Phan Văn G và anh Đỗ Quốc P nghe tiếng hô “cướp, cướp” cũng tham gia đuổi đánh và xông vào giằng dao trên tay T. Trong khi anh G, anh P đang giằng co con dao với T, thì anh T1 đi từ phía sau cầm cục đá đập mạnh vào đầu T rồi bỏ chạy. T bị chảy máu ở đầu, nhưng vẫn giật lại được dao, rồi dùng dao khua khoắng loạn xạ làm anh P bị thương tích ở phần ngực (01%); anh G bị đâm vào ngực dẫn đến tử vong. Do T đẩy anh P ngã, nên anh P bị thêm thương tích ở lưng (4%). Như vậy, hành vi nêu trên của Đỗ Văn T không xuất phát từ một lý do vô cớ hay vì một mâu thuẫn nhỏ nhặt nào khác, đồng thời có cơ sở để khẳng định T không có ý thức tước đoạt tính mạng của anh Nguyễn Chí T1 và anh Đỗ Quốc P, do đó Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm a (giết nhiều người) và điểm n (có tính chất côn đồ) theo khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là không đúng.”

(Nguồn: Tài liệu Hội nghị Sơ kết 03 năm thực hiện công tác phát triển án lệ – TANDTC. Tại TPHCM. 17/9/2018)