CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM

Bạn đang xem

Dự thảo án lệ 19 (đợt 3): Dự thảo án lệ về phạm vi yêu cầu trong vụ án đòi tài sản là nhà đất

Án lệ số …./2017 về phạm vi yêu cầu trong vụ án đòi tài sản là nhà đất

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày... tháng... năm... và được công bố theo Quyết định số.../QĐ-CA ngày... tháng... năm... của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 461/2012/DS-GĐT ngày 20-9-2012 của Hội đồng giám đốc thẩm Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “đòi nhà cho thuê” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là NĐ1, NĐ2, NĐ3, NĐ4, NĐ5, NĐ6, NĐ7, NĐ8, NĐ9 (người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là NĐD) với bị đơn là BĐ (BĐ ủy quyền cho NUQ); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là NLQ1, NLQ2

Vị trí nội dung án lệ:

Đoạn 10 phần Xét thấy của Quyết định Giám đốc thẩm nêu trên.

Khái quát nội dung án lệ:

-Tình huống án lệ:

Trong vụ án kiện đòi tài sản là nhà đất, có đương sự yêu cầu xác định nhà đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của mình nhưng không yêu cầu giải quyết phần giá trị công trình mà họ đã xây dựng thêm trên đất đó và Tòa án quyết định nhà đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người khác.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này phải giải quyết việc thanh toán giá trị công trình xây dựng thêm trên đất đó vì yêu cầu xác định nhà đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của đương sự lớn hơn yêu cầu thanh toán giá trị công trình xây dựng thêm trên đất đó.

- Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

Khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (Khoản 1, Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015)

Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015)

Từ khóa án lệ:

“Đòi tài sản”; “Nhà đất”; “Thanh toán giá trị công trình xây dựng”; “Phạm vi yêu cầu”; “Không vượt quá phạm vi yêu cầu”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27-12-2009 và trong quá trình tố tụng, các đồng nguyên đơn và NĐD, đại diện theo ủy quyền của các đồng nguyên đơn trình bày:

Nhà đất tại A, phường B, quận BT, thành phố Hà Nội có diện tích 170m2 mang bằng khoán điền thổ số 708 khu C đứng tên cụ D và E, do bảo hộ Bắc Kỳ cấp ngày 22-5-1935. Cụ D và cụ E không có con chung. Năm 1955 cụ E chết, năm 1951 cụ D cho cụ F thuê một phần diện tích nhà A để đặt máy xay xát gạo. Năm 1953 cụ D chết thì cụ G (vợ sau của cụ D) tiếp tục ký hợp đồng cho cụ F thuê. Sau đó, do hoàn cảnh chiến tranh và biến động của lịch sử nên gia đình không tiếp tục theo dõi việc cho thuê nhà đất. Sau khi tìm hiểu, gia đình được biết người đang sử dụng là NLQ2. Năm 1981 cụ G trực tiếp sang gặp ông Chủ nhiệm NLQ2là ông H nhưng không lần nào được ông H tiếp. Năm 1982 cụ G mất, ngày 18-12-1982 ông H thuê người phá toàn bộ căn nhà trên để xây dựng lại (hiện nay là 3 tầng).

Việc xây dựng này, đồng nguyên đơn đều đã nhiều lần làm đơn đến cơ quan thẩm quyền để xin được giải quyết nhưng không có hồi âm.

Quá trình quản lý đất tại đây gia đình nguyên đơn đã bán một phần nhà A cụ thể: Năm 1988, gia đình đã bán phần đất diện tích phía A1 cho bà I, ông J, ông K diện tích ở 37,8m2, sân 35,01m2 và sau này bán tiếp diện tích khu phụ, phần diện tích khu phụ khoảng 10m2, hiên có chiều ngang 1m, chiều dài 6m nối nhà A1 xuống khu phụ nhà AB. Tổng diện tích bán cho bà I, ông J, ông K khoảng 90m2. Năm 1992 gia đình bán tiếp nhà AB cho ông L, bà M có tổng diện tích 50m2. Như vậy, phần diện tích còn lại theo bằng khoán điền thổ là 30m2.

Sau đó NLQ2 lại tự động làm tiếp các công trình phụ, khung kính và xây thêm tường để làm thêm diện tích sân thượng trên diện tích 30m2 còn lại của gia đình nguyên đơn. Nghiêm trọng hơn là vào năm 1996-1997 NLQ2 đã tự bán căn nhà này cho BĐ đã sử dụng từ đó đến nay.

Nay do hoàn cảnh cấp thiết về nhà ở, các đồng nguyên đơn yêu cầu BĐ phải trả toàn bộ diện tích nhà đất tại A. Các đồng nguyên đơn đồng ý tạo điều kiện để BĐ và gia đình về ở tại tầng 2 và tầng 3 phía trong số nhà N trong thời hạn 6 tháng. Các đồng nguyên đơn đồng ý thanh toán giá trị xây dựng tại nhà A theo biên bản định giá của Hội đồng thẩm định giá.

BĐ trình bày: Về nguồn gốc trước đây của nhà đất thế nào thì ông không rõ, ông chỉ biết năm 1970 Hợp tác xã công nghiệp K (nguyên là Hợp tác xã cơ khí K) chuyển nhượng lại trụ sở số A cho NLQ2, năm 1977 BĐ xin gia nhập và góp vốn vào NLQ2, trong Hợp đồng góp vốn NLQ2 đã nhất trí thỏa thuận là BĐ góp 100 lạng vàng và sử dụng ngôi nhà A. Nhóm xã viên do ông đại diện gồm: NLQ1, ông P, ông Q, bà R đã góp vốn theo thoả thuận và năm 1997 BĐ chính thức nhận sử dụng, khai thác đối với nhà đất này. Năm 2006 NLQ2 làm ăn không hiệu quả nên nhóm xã viên do ông làm đại diện xin rút ra khỏi danh sách NLQ2và NLQ2 đã chia tài sản cho BĐ và nhóm xã viên do ông làm đại diện tương đương với số vốn góp ban đầu là nhà A. BĐ và vợ là NLQ1 đã thanh toán tiền góp vốn cho những xã viên còn lại do BĐ làm đại diện và BĐ chính thức sở hữu nhà số A cho đến nay. Khi chuyển nhượng, giữa BĐ và NLQ2 đã thực hiện đầy đủ giấy tờ, BĐ sẽ cung cấp cho Tòa án sau.

Nay các đồng thừa kế của cụ G mà đại diện là NĐ1 yêu cầu trả lại nhà thì BĐ không đồng ý vì thiếu cơ sở pháp lý. BĐ không biết cụ G và các con cụ là ai, BĐ chỉ biết nhà này là do NLQ2 bán lại cho BĐ nên việc sử dụng của BĐ là hợp pháp. Quá trình ở tại đây BĐ đã sửa chữa nhiều lần như hiện nay, các con của BĐ và NLQ1 ở đây đều không đóng góp gì trong quá trình mua bán nhà của NLQ2 và sửa chữa nhà này nên không liên quan gì.

NLQ1 trình bày: Theo NLQ1 được biết là từ năm 1970, NLQ2 đã mua lại nhà của Hợp tác xã cơ khí K với giá 4.500đ. Do thiếu vốn kinh doanh NLQ2 đã huy động vốn và đồng ý cho NLQ1 góp vốn vào NLQ2. Năm 1997 nhóm xã viên gồm 5 người và được NLQ2 giao cho ngôi nhà A để nhóm sản xuất kinh doanh độc lập. Năm 2006 căn cứ vào tình hình thực tế và theo nguyện vọng của nhóm xã viên 5 người, NLQ2 đã tiến hành họp Đại hội xã viên và nhất trí bán đứt ngôi nhà A cho BĐ, việc này thể hiện cụ thể trong biên bản Đại hội xã viên NLQ2 ngày 16-7-2006. Sau đó, nhóm 5 người đồng ý ủng hộ NLQ2 là 100.000.000đ còn 150.000.000đ theo thỏa thuận khi nào làm xong sổ đỏ thì trả nốt. Sau đó nhóm 5 xã viên gồm BĐ, ông P, ông Q, bà R, NLQ1 đã có sự thống nhất: NLQ1 và BĐ thanh toán cho ông P, ông Q, bà R số tiền bao nhiêu thì bà không nhớ rõ để mua đứt nhà A nữa. Nay NĐ1 cùng các đồng nguyên đơn yêu cầu trả lại nhà A, ý kiến của NLQ1 là NLQ1 và BĐ đã mua lại hợp pháp của NLQ2 nên không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.

Đại diện NLQ2 do bà S chủ nhiệm trình bày: Năm 1970 NLQ2 đã được ông H thành lập và làm chủ nhiệm. Văn phòng đó tại A, được Hợp tác xã công nghiệp K bán lại nhà mái vẩy tôn. Sau 12 năm phát triển, NLQ2 thu hút 100 xã viên. Do đó năm 1982 NLQ2 được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng nhà kiên cố 3 tầng và từ ngày thành lập đến nay NLQ2 vẫn đóng góp thuế sử dụng đất.

Năm 1997 chủ nhiệm H lúc đó đã 70 tuổi sức yếu đã thuận tình cho BĐ đại diện cho nhóm 5 người góp vốn đề xin gia nhập xã viên NLQ2 với tổng số tiền 440.000.000đ. Ngày 05-6-1998 Ban thanh tra Công an quận BT có văn bản số 457/CSKT-THBT thanh tra xác nhận không có việc mua bán ngôi nhà A với nhóm BĐ mà giao cho tổ BĐ để kinh doanh, sản xuất. Một số vốn đóng góp đã trả cho xã viên theo Nghị quyết 32 của Chính phủ.

Từ năm 1997 đến năm 2006 tổ BĐ không đóng góp gì cho quỹ phúc lợi của NLQ2. Do đó một số xã viên đề nghị được chuyển từ sản xuất ra bán hàng tại cửa hàng A. Do đó BĐ xin đóng góp một số tiền do khai thác cửa hàng A mà có để giảm bớt khó khăn cho xã viên, nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện đủ.

Tháng 8-2008 ông H qua đời, NLQ2 đã Đại hội xã viên bầu bà S làm chủ nhiệm NLQ2, bà S đã nhiều lần mời BĐ đến văn phòng để làm sáng tỏ ngôi nhà A, nhưng BĐ không đến. Với căn cứ trên NLQ2 khẳng định ngôi nhà A, là tài sản của NLQ2 do công sức tiền của xã viên đóng góp xây dựng mà có. Nay NLQ2 đề nghị Tòa án xem xét thấu đáo để giải quyết đúng pháp luật để NLQ2 và xã viên không bị mất mát, thiệt hại tài sản và quyền lợi chính đáng.

Tại bản án số 05/2011/ DSST ngày 15-6-2011 của Tòa án nhân dân quận BT đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu đòi lại tài sản của các đồng nguyên đơn do NĐD làm đại diện đối với BĐ.

Xác nhận nhà AA, phường B, quận BT, Hà Nội có diện tích 26,4m2 thuộc thửa đất số 402 tờ số 12, bằng khoán điền thổ số 708 khu C lập năm 1935 thuộc quyền sở hữu và sử dụng của NĐ1, NĐ2, NĐ3, NĐ4, NĐ5, NĐ6, NĐ7, NĐ8, NĐ9.

Buộc BĐ, NLQ1 và những người thường xuyên cư trú tại số nhà AA, phường B, Hà Nội phải trả toàn bộ nhà cho NĐ1, NĐ2, NĐ3, NĐ4, NĐ5, NĐ6, NĐ7, NĐ8, NĐ9 do NĐD làm đại diện.

Ghi nhận sự tự nguyện của các đồng nguyên đơn do NĐD làm đại diện tạo điều kiện cho BĐ, NLQ1 và những người đang cư trú tại AA, Hà Nội về ở tại N, quận BT, Hà Nội (tầng 2 và tầng 3 phía trong) trong thời hạn 06 tháng kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.

Giành để giải quyết bằng vụ án khác về việc mua bán, chia tách tài sản, giá trị xây dựng nhà AA, phường B, Hà Nội khi các đương sự có yêu cầu.

Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.

Ngoài ra, Tòa án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự

Ngày 17/6/2011 vợ chồng BĐ, NLQ1 có đơn kháng cáo.

Ngày 16/7/2011 NLQ2 có đơn kháng cáo.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 02/2012/DSPT ngày 11/01/2012, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Chấp nhận yêu cầu đòi lại tài sản của các đồng nguyên đơn do NĐD làm đại diện đối với BĐ.

Xác nhận nhà AA, phường B, quận BT, Hà Nội (là một phần của nhà AA, phường B, Hà Nội) có diện tích 26,4m2thuộc thửa đất số 402 tờ số 12, bằng khoán điền thổ số 708 khu C lập năm 1935 thuộc quyền sở hữu và sử dụng của NĐ1, NĐ2, NĐ3, NĐ4, NĐ5, NĐ6, NĐ7, NĐ8, NĐ9.

Buộc BĐ, NLQ1 và những người thường xuyên cư trú tại số nhà AA, phường B, Hà Nội phải trả toàn bộ nhà 4 tầng cho NĐ1, NĐ2, NĐ3, NĐ4, NĐ5, NĐ6, NĐ7, NĐ8, NĐ9 do NĐD làm đại diện.

Ghi nhận sự tự nguyện của các đồng nguyên đơn do NĐD làm đại diện tạo điều kiện cho BĐ, NLQ1 và những người đang cư trú tại AA, Hà Nội về ở tại N, quận BT, Hà Nội (tầng 2 và tầng 3 phía trong) trong thời hạn 06 tháng kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.

Giành để giải quyết bằng vụ án khác về việc mua bán, chia tách tài sản, và nghĩa vụ thanh toán giá trị xây dựng nhà AA, phường B, Hà Nội khi các đương sự có yêu cầu.

Ngoài ra, Tòa án còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, BĐ có khiếu nại.

Tại Quyết định kháng nghị số 66/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 20-7-2012 đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 02/2012/DSPT ngày 11-01-2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2011/ DSST ngày 15-6-2011 của Tòa án nhân dân quận BT, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận BT xét xử sơ thẩm lại vụ án.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị chấp nhận Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận.

Hội đồng giám đốc thẩm Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao nhận định:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định các nhà mang số từ số 1 đến A và A1 thuộc thửa đất số 402, tờ bản đồ số 12, khu C có diện tích 170m2. Ngày 22-5-1935 Sở Bảo thủ điền thổ Hà Nội lập bằng khoán điền thổ số 708 cấp cho chủ sở hữu là vợ chồng cụ D, E. Phố Huế sau Cách mạng tháng 8-1945 được đổi tên thành phố Duy Tân, sau ngày Hà Nội được giải phóng lại đổi lại tên phố là phố Huế; do đó, phố Duy Tân và phố Huế là một.

Theo Công văn số 160/UBND ngày 29-7-2010 của Ủy ban nhân dân phường B, quận BT thì nhà đất tại A mang bằng khoán điền thổ số 708, tờ số 12, thửa số 402 tương ứng với các các thửa đất số 37, 120, 121 và 122 tờ bản đồ 6H-II-23 lập năm 1996. Nhà đất đang tranh chấp mang AA là một phần của nhà A và thuộc quyền sở hữu của cụ D, cụ E và sau này là cụ G.

Năm 1951, cụ D lập hợp đồng cho cụ F thuê một phần nền nhà giữa nhà A (bề mặt 6 thước, bề sâu 6 thước). Ngày 20-2-1953 cụ D lập di chúc để lại toàn bộ nhà đất nêu trên cho vợ thứ là cụ G. Sau khi cụ D chết (1953), cụ G tiếp tục ký hợp đồng cho cụ F thuê nền nhà nêu trên. Thời hạn thuê trong hợp đồng là 01 năm kể từ ngày 01-4-1953 đến ngày 01-4-1954. Theo nội dung của hợp đồng thì trên nền nhà có sẵn 2 hồi nhà, cụ F được quyền lợp thêm mái tôn hoặc mái ngói để sử dụng làm chỗ buôn bán; cụ F được sử dụng chung nhà bếp và nhà vệ sinh, những người ở nhà ngoài có thể đi lại qua nhà giữa (qua phần diện tích cụ F thuê) của nhà A; nếu hết thời hạn thuê mà các bên không chấm dứt hợp đồng thuê thì mặc nhiên hợp đồng lại có giá trị như cũ. Cho đến nay, không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện nhà đất này cụ G hoặc các thừa kế của cụ G đã chuyển dịch quyền sở hữu phần diện tích nhà đất đang tranh chấp cho người khác, hoặc có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý phần diện tích nhà đất đang tranh chấp đối với cụ G hoặc các thừa kế của cụ G và giao cho người khác sử dụng. Nên phần nền nhà đất này thuộc vào bằng khoán điền thổ số 708 vẫn thuộc quyền sở hữu của chủ nhà.

Theo tài liệu do phía BĐ xuất trình thì ngày 24-6-1982 NLQ2 được Ủy ban xây dựng cơ bản thành phố Hà Nội cấp giấy phép sửa chữa từ nhà 1 tầng mái lợp tôn thành nhà 2 tầng có gác lửng, mái lợp ngói, diện tích xây dựng 27m2; ngày 10-4-1995 NLQ2 lập tờ trình xin hợp thức hóa nhà, phần kê khai nguồn gốc đất đang sử dụng là mua của Hợp tác xã cơ khí K (là đất tư) nhưng cho đến nay vẫn chưa được hợp thức quyền sử dụng đất.

Tại các “Giấy xác nhận” của ông T (nguyên là cán bộ quản lý của Ban Liên hiệp xã tiểu thủ công nghiệp quận BT thời kỳ từ năm 1970 đến năm 1986) ngày 21-9-1994 có nội dung: Năm 1970 Hợp tác xã cơ khí K bán cho NLQ2 nhà A (1 tầng lợp tôn) với giá 4.500đ; tại “Giấy xác nhận” của ông U (nguyên là Chủ nhiệm Hợp tác xã cơ khí K ở VT ngày 26-9-1994 có nội dung: năm 1970 Hợp tác xã cơ khí K bán cho NLQ2 ngôi nhà lợp tôn diện tích 27m2 tại số A với số tiền 4.500đ. Ngôi nhà này do xã viên góp vào đã hóa giá Hợp tác xã cơ khí K đã thanh toán tiền hóa giá cho xã viên góp vào. Ngày 15-12-1994 Phòng Công nghiệp quận BT xác nhận chức vụ công tác của ông U và xác định Hợp tác xã cơ khí K nay đã giải thể; việc mua bán nhà giữa Hợp tác xã cơ khí K và NLQ2 Phòng Công nghiệp không biết.

Ngày 01-8-1997 NLQ2 ký hợp đồng góp vốn với nhóm xã viên (5 người gồm BĐ, ông P, ông Q, bà R, NLQ1) do BĐ đại diện, theo nội dung của hợp đồng thì nhóm xã viên này góp cho NLQ2 100 lạng vàng loại 98% để được sử dụng nhà A; ngày 13-8-1997 hai bên lập biên bản cuộc họp bàn giao nhà A cho ông Định đại diện nhóm xã viên 5 người, tại văn bản này thì số vàng các xã viên góp vốn được quy đổi thành 460,560.000đ, phía NLQ2 nhất trí bàn giao nhà 04 tầng, kể cả cửa hàng tại A “để sản xuất kinh doanh, ở vĩnh viễn” và thống nhất việc bàn giao nhà được thực hiện vào ngày 15-8-1997. Theo BĐ khai thì NLQ2 đã bán ngôi nhà này cho nhóm xã viên do BĐ đại diện, sau này vợ chồng BĐ đã thanh toán tiền cho ông ông P, ông Q, bà R để được sở hữu toàn bộ nhà A.

Như vậy, xuất phát từ hợp đồng cho thuê đất nền nhà A giữa cụ D, cụ G với cụ F từ năm 1951, rồi sau đó việc dịch chuyển tài sản này từ cụ F sang Hợp tác xã cơ khí K như thế nào thì chưa được các Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm làm rõ. Theo xác nhận của ông U nêu trên thì chưa rõ người đưa tài sản này góp vốn vào Hợp tác xã cơ khí K là ai, cụ F hay người nào khác; nếu cụ F hoặc người nào khác tự ý đưa tài sản này góp vốn vào Hợp tác xã cơ khí K mà không được sự đồng ý của cụ G thì việc Hợp tác xã cơ khí K hóa giá và thanh toán tiền hóa giá cho cụ F hoặc cho người đưa tài sản góp vào Hợp tác xã cơ khí K đều là không đúng.

BĐ cho rằng BĐ mua nhà đất này của NLQ2 với giá 100 lạng vàng 98% năm 1997, nhưng NLQ2 lại cho rằng NLQ2 không bán nhà đất cho BĐ mà còn có đơn khởi kiện “đòi nhà” đối với vợ chồng BĐ. Do đó, đã phát sinh tranh chấp giữa BĐ và NLQ2. Tuy nhiên, do NLQ2 không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thủ tục yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và BĐ cũng không có yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ góp vốn để được sử dụng nhà A mà BĐ cho rằng BĐ đã mua của NLQ2, nên Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không có cơ sở để thụ lý giải quyết các vấn đề này trong cùng vụ án nên đã giành quyền khởi kiện vụ án dân sự khác cho các đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đối với ông P, ông Q, bà R là những người cùng góp vốn với BĐ vào NLQ2 để được sử dụng nhà A. Sau khi ông P, ông Q, bà R rút phần vốn góp và để cho vợ chồng BĐ được sử dụng nhà A thì BĐ đã thanh toán dứt điểm quyền lợi cho ông P, ông Q, bà R; những người này cũng không có yêu cầu tham gia tố tụng, BĐ cũng không có tranh chấp với họ, không yêu cầu giải quyết việc góp vốn và thanh toán vốn góp cùng những ngựời này và không có yêu cầu đưa các ông bà này tham gia tố tụng, nên Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cũng không có cơ sở để đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, là đúng.

Đối với việc thanh toán giá trị xây dựng tại A. Tuy BĐ không nêu yêu cầu giải quyết phần giá trị xây dựng vì BĐ cho rằng BĐ đã mua nhà đất này với NLQ2 và xin được công nhận việc mua bán nhà giữa BĐ và NLQ2, nhưng quyền lợi của vợ chồng BĐ gắn với nhà đất tại A (phần nhà đất đang tranh chấp) nên khi buộc vợ chồng BĐ phải trả nhà đất cho các đồng nguyên đơn thì phải buộc các đồng nguyên đơn phải thanh toán giá trị xây dựng tại nhà đất đang tranh chấp cho vợ chồng BĐ theo giá mà Tòa án đã định giá mới đúng. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm lại cho rằng việc thanh toán giá trị xây dựng nhà này nằm trong giá trị NLQ2 và nhóm xã viên do BĐ đại diện đã được thanh toán cho NLQ2 và phía BĐ, NLQ1 chưa có yêu cầu giải quyết nên tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi các bên có yêu cầu, là không đảm bảo quyền lợi của vợ chồng BĐ.

Ngoài ra, khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần xác định những người con của BĐ, NLQ1 hoặc những người đang thường xuyên sinh sống tại nhà đất đang tranh chấp để đưa họ tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Vì các lẽ trên và căn cứ vào khoản 2 và khoản 4 Điều 291, Điều 296, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận kháng nghị số 66/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 20-7-2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 02/2012/DSPT ngày 11/01/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 02/2012/DSPT ngày 11/01/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2011/DSST ngày 15-6-2011 của Tòa án nhân dân quận BT về vụ án “Đòi nhà cho thuê” giữa các đồng nguyên đơn là NĐ1, NĐ2, NĐ3, NĐ4, NĐ5, NĐ6, NĐ7, NĐ8, NĐ9 với BĐ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là NLQ1, NLQ2.

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận BT, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại vụ án.

NỘI DUNG ÁN LỆ

Đối với việc thanh toán giá trị xây dựng tại số A. Tuy BĐ không nêu yêu cầu giải quyết phần giá trị xây dựng vì BĐ cho rằng BĐ đã mua nhà đất này với NLQ2 và xin được công nhận việc mua bán nhà giữa BĐ và NLQ2, nhưng quyền lợi của vợ chồng BĐ gắn với nhà đất tại A (phần nhà đất đang tranh chấp) nên khi buộc vợ chồng BĐ phải trả nhà đất cho các đồng nguyên đơn thì phải buộc các đồng nguyên đơn phải thanh toán giá trị xây dựng tại nhà đất đang tranh chấp cho vợ chồng BĐ theo giá mà Tòa án đã định giá mới đúng”.

(nguồn Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn))